Sử
Sử Việt Niên Biểu
Quay lại dòng thời gianTư liệu Lịch sử — Wikipedia Archive

Chiến tranh thế giới thứ nhất

"cuộc chiến tranh thế giới bắt nguồn tại châu Âu từ năm 1914 đến năm 1918"

Chiến tranh thế giới thứ nhất, còn được gọi là Đại chiến thế giới lần thứ nhất, Đệ nhất Thế chiến hay Thế chiến I, là một cuộc chiến tranh thế giới bắt nguồn tại châu Âu từ ngày 28 tháng 7 năm 1914 đến ngày 11 tháng 11 năm 1918.

Tham chiến Khối Hiệp ước:
 Pháp
Liên minh Trung tâm:Chỉ huy và lãnh đạo Lực lượng Tổng cộng: 42,928,000
  • 12,000,000
  • Đệ Tam Cộng hòa Pháp 8,660,000
  • Đế quốc Anh 5,839,000
  • Vương quốc Ý 5,093,000
  • Hoa Kỳ 4,744,000
  • Raj thuộc Anh 1,680,000
  • Vương quốc România 1,234,000
  • Đế quốc Nhật Bản 800,000
  • Vương quốc Serbia 707,000
  • Canada 629,000
  • Úc 417,000
  • Bỉ 380,000
  • Vương quốc Hy Lạp 230,000
  • Bồ Đào Nha 200,000
  • Liên hiệp Nam Phi 136,000
  • New Zealand 129,000
  • Vương quốc Montenegro 50,000
Tổng cộng: 25,248,000
  • Đế quốc Đức 13,250,000
  • Đế quốc Áo-Hung 7,800,000
  • Đế quốc Ottoman 2,998,000
  • Vương quốc Bulgaria 1,200,000
68,176,000 (Tổng tất cả)Thương vong và tổn thất
  • Quân nhân chết: 5,525,000
  • Quân nhân bị thương: 12,832,000
  • Tổng cộng: 18,357,000 
  • Dân thường chết: 4,000,000
biết thêm chi tiết ...
Quân nhân chết theo quốc gia:
  • Nga 1,811,000
  • Đệ Tam Cộng hòa Pháp 1,398,000
  • Đế quốc Anh 1,115,000
  • Vương quốc Ý 651,000
  • Vương quốc România 250,000–335,000
  • Vương quốc Serbia 275,000
  • Hoa Kỳ 117,000
  • Bỉ 59,000–88,000
  • Vương quốc Hy Lạp 26,000
  • Bồ Đào Nha 7,000
  • Vương quốc Montenegro 3,000
  • Đế quốc Nhật Bản <1,000
  • Quân nhân chết: 4,386,000
  • Quân nhân bị thương: 8,388,000
  • Tổng cộng: 12,774,000 
  • Dân thường chết: 3,700,000
biết thêm chi tiết ...
Quân nhân chết theo quốc gia:
  • Đế quốc Đức 2,051,000
  • Đế quốc Áo-Hung 1,200,000
  • Đế quốc Ottoman 772,000
  • Vương quốc Bulgaria 88,000

Chiến tranh thế giới thứ nhất, còn được gọi là Đại chiến thế giới lần thứ nhất, Đệ nhất Thế chiến hay Thế chiến I, là một cuộc chiến tranh thế giới bắt nguồn tại châu Âu từ ngày 28 tháng 7 năm 1914 đến ngày 11 tháng 11 năm 1918.

Cuộc chiến tranh này là một trong những sự kiện có ảnh hưởng nhất trong lịch sử thế giới. Đây là cuộc chiến tranh có chiến trường chính bao trùm khắp châu Âu và ảnh hưởng ra toàn thế giới, lôi kéo tất cả các cường quốc châu Âu và Bắc Mỹ vào cuộc chiến với số lượng người chết trên 19 triệu người, đồng thời có sức tàn phá và ảnh hưởng về vật chất lẫn tinh thần của nhân loại rất sâu sắc và lâu dài. Khác với các cuộc chiến tranh trước đó, người châu Âu phải chiến đấu cả trên chiến trường lẫn ở hậu phương. Phụ nữ phải làm việc thay nam giới, đồng thời sự phát triển của công nghệ cũng có ảnh hưởng đến tính chất chiến tranh; có thể thấy sự hiệu quả của không quân và xe tăng trong chiến đấu kể từ cuộc Đại chiến này. Chiến tranh chiến hào gắn liền với cuộc Đại chiến thế giới lần thứ nhất trong thời gian đầu của nó.

Đây là cuộc chiến giữa phe Hiệp Ước (chủ yếu là Anh, Pháp, Nga và sau đó là Hoa Kỳ, Brasil) với phe Liên minh Trung tâm (chủ yếu là Đức, Áo-Hung, Bulgaria và Ottoman). Cuộc chiến bắt đầu với Vụ ám sát thái tử Áo-Hung (được coi là "ngòi nổ" của cuộc chiến tranh), dẫn đến việc Áo - Hung tuyên chiến với Serbia. Sự kiện này được nối tiếp bởi việc Hoàng đế Đức là Wilhelm II truyền lệnh cho các tướng lĩnh đưa quân tấn công Bỉ, Luxembourg và Pháp, theo kế hoạch Schlieffen. Hơn 70 triệu quân nhân được huy động ra trận chiến, trong số đó có 60 triệu người châu Âu. Trong cuộc chiến tranh kinh hoàng này, Pháp là nước chịu tổn thất nặng nề hơn cả và hoàn toàn bị kiệt quệ, dẫn tới sự đại bại của họ trong các cuộc chiến tranh về sau. Những trận đánh khốc liệt nhất trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất cũng diễn ra trên đất Pháp. một trận đánh đáng nhớ của cuộc Đại chiến là tại Verdun năm 1916, khi quân Đức tấn công thành cổ Verdun của Pháp, nhưng không thành công. Tuy nhiên, trận chiến đẫm máu nhất là tại sông Somme (1916), khi liên quân Anh - Pháp đánh bất phân thắng bại với quân Đức, trong khi chiến dịch quân sự lớn nhất là Cuộc tổng tấn công của Brusilov, khi quân Nga đánh bại liên quân Áo-Hung và Đức.

Tất cả những đế quốc quân chủ (trừ Đế quốc Anh) đều sụp đổ trong cuộc chiến tranh này. Đảng Bolshevik lên nắm quyền tại nước Nga sau cuộc Cách mạng Tháng Mười lật đổ Chính phủ Lâm thời Nga, trong khi việc Đức bại trận lại tạo điều kiện cho Đức Quốc Xã lên nắm quyền nhờ biết khai thác tâm lý bất mãn của người dân. Tuy nước Đức thua cuộc nhưng về thương mại và công nghiệp họ không bị tổn hại gì lớn, vì thế về những mặt này họ đã chiến thắng cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.

Không một nước châu Âu nào thật sự chiến thắng cuộc chiến tranh này, tất cả đều chịu tổn hại nặng nề về người và của. Sau chiến tranh, châu Âu lâm vào tình trạng khủng hoảng và những cao trào chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy ở các nước bại trận. Điển hình là tại Thổ Nhĩ Kỳ, bão táp phong trào cách mạng giải phóng dân tộc rầm rộ, đưa dân tộc này dần dần hồi phục, và buộc phe Hiệp Ước phải xóa bỏ những điều khoản khắc nghiệt sau khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất chấm dứt. Nước duy nhất không bị tàn phá mà còn thu được lợi nhuận lớn từ cuộc chiến này là Hoa Kỳ, nó đã tạo điều kiện cho nước này vượt trên các nước châu Âu về kinh tế kể từ sau cuộc chiến.

Trước đây ở các nước nói tiếng Anh dùng từ "Đại chiến" (Great War). Vài thập kỷ sau, tên gọi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (World War I) mới được áp dụng để phân biệt với cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Đương thời, nó còn được gọi với cái tên "Cuộc chiến tranh chấm dứt mọi cuộc chiến tranh" (The war to end all wars) bởi quy mô và sự tàn phá khủng khiếp nó gây ra. Chính những vấn đề liên quan tới Hoà ước Versailles 1919 đã khiến cho cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.

Tên gọi

Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, các sự kiện từ năm 1914 đến 1918 thường được gọi phổ biến là Cuộc Đại chiến (Great War) hoặc đơn giản là Thế chiến (World War). Vào tháng 8 năm 1914, tạp chí The Independent đã nhận định về cuộc xung đột này: "Đây là cuộc Đại chiến. Nó tự đặt tên cho chính mình." Trong thập kỷ sau khi chiến tranh kết thúc, nhiều người đã hy vọng đây sẽ là "cuộc chiến chấm dứt mọi cuộc chiến", bởi mức độ tàn phá và số lượng thương vong chưa từng có trong lịch sử. Lần sử dụng sớm nhất được biết đến của thuật ngữ Chiến tranh thế giới thứ nhất xuất hiện vào tháng 9 năm 1914, khi nhà sinh vật học kiêm triết gia người Đức Ernst Haeckel viết rằng "Cuộc chiến tranh châu Âu" đang diễn ra sẽ trở thành "cuộc chiến tranh thế giới đầu tiên theo đúng nghĩa đầy đủ của từ này."

Bối cảnh

Các liên minh chính trị và quân sự

Bản đồ châu Âu tập trung vào Áo-Hung và đánh dấu vị trí trung tâm của các nhóm sắc tộc bên trong bao gồm người Slovak, Séc, Slovene, Croat, Serb, Romania, Ukraina, Ba Lan.
Các liên minh quân sự đối đầu vào năm 1914:

Suốt phần lớn thế kỷ 19, các cường quốc châu Âu đã duy trì một thế cân bằng quyền lực mong manh mang tên Hòa hợp châu Âu. Sau năm 1848, trật tự này dần lung lay trước việc nước Anh rút lui vào chính sách "cô lập huy hoàng", sự suy tàn của Đế quốc Ottoman, làn sóng chủ nghĩa đế quốc mới, và đặc biệt là sự trỗi dậy của Vương quốc Phổ dưới sự dẫn dắt của Otto von Bismarck. Chiến thắng áp đảo trong cuộc Chiến tranh Pháp–Phổ (1870–1871) đã giúp Bismarck hoàn tất công cuộc Thống nhất nước Đức để khai sinh Đế quốc Đức. Kể từ năm 1871, chính sách đối ngoại của Pháp bị chi phối bởi tâm lý phục thù nhằm rửa mối hận thất trận song song với nỗ lực bành trướng hệ thống thuộc địa.

Năm 1873, Bismarck đứng ra dàn xếp thành lập Liên minh Tam Hoàng quy tụ ba đế quốc Áo-Hung, Nga và Đức. Tuy nhiên, sau cuộc Chiến tranh Nga–Thổ Nhĩ Kỳ (1877–1878), liên minh này tan vỡ do Áo lo ngại Nga bành trướng ảnh hưởng tại vùng Balkan, nơi Viên coi là vành đai an ninh sống còn. Để lấp chỗ trống, Đức và Áo-Hung thiết lập Liên minh Kép vào năm 1879, rồi mở rộng thành Liên minh Ba nước khi có thêm Ý tham gia vào năm 1882. Mục tiêu cốt lõi của Bismarck khi dựng nên các hiệp ước này là cô lập Pháp bằng cách gắn kết ba đế chế quân chủ lớn để tự dàn xếp mọi bất đồng nội bộ. Đến năm 1887, ông tiếp tục củng cố mạng lưới ngoại giao bằng Hiệp ước Đảm bảo, một thỏa ước bí mật giữa Berlin và St. Petersburg nhằm đảm bảo đôi bên giữ thái độ trung lập nếu một trong hai nước bị Pháp hoặc Áo-Hung tiến công.

Các đế quốc và thuộc địa trên thế giới k. 1914

Đối với Bismarck, giữ mối quan hệ hòa hảo với Nga luôn là hòn đá tảng trong đường lối đối ngoại của Đức. Tuy nhiên, sau khi ông bị Hoàng đế Wilhelm II ép từ chức vào năm 1890, trật tự này nhanh chóng đảo lộn. Vị tân hoàng đế nghe theo lời khuyên của Tân Thủ tướng Leo von Caprivi đã quyết định không gia hạn Hiệp ước Đảm bảo. Sai lầm chiến lược này mở đường cho Pháp tiếp cận Nga để tiến tới Liên minh Pháp-Nga vào năm 1894. Tiếp đó, Paris ký kết Hiệp ước Thân thiện với London vào năm 1904. Khối Entente (Hiệp ước) chính thức hoàn chỉnh cấu trúc sau khi có thêm Hiệp ước Anh–Nga vào năm 1907. Tuy chưa phải là những liên minh quân sự ràng buộc chặt chẽ, việc dàn xếp dứt điểm những tranh chấp thuộc địa dai dẳng tại châu Á và châu Phi đã khiến khả năng Anh điều quân hỗ trợ Pháp hoặc Nga trong xung đột tương lai trở nên rõ nét hơn bao giờ hết. Mối liên kết này càng thêm vững chắc khi cả London lẫn St. Petersburg đều công khai hậu thuẫn Paris chống lại Berlin trong cuộc Khủng hoảng Agadir năm 1911.

Chạy đua vũ trang

SMS Rheinland, thiết giáp hạm thuộc lớp Nassau của Đức hạ thủy năm 1910 nhằm đáp trả thế độc tôn của tàu Dreadnought phía Anh

Sau năm 1871, tiềm lực công nghiệp và kinh tế của Đức phát triển với tốc độ thần tốc. Được sự ủng hộ tuyệt đối từ Hoàng đế Wilhelm II, Đô đốc Alfred von Tirpitz ráo riết tận dụng sức mạnh sản xuất này để xây dựng Hải quân Đế quốc Đức thành một lực lượng đủ sức thách thức Hải quân Hoàng gia Anh. Đường lối này chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các luận điểm của học giả hải quân Mỹ Alfred Thayer Mahan, người khẳng định năng lực tác chiến viễn dương trên biển mở là chìa khóa then chốt để áp đặt sức mạnh toàn cầu. Tirpitz đã cho dịch các tác phẩm của Mahan sang tiếng Đức, còn Wilhelm II xem đây là cẩm nang bắt buộc đối với toàn bộ tướng lĩnh và ban cố vấn của triều đình.

Trước đây, Bismarck từng phản đối kịch liệt mọi tham vọng đối đầu trên biển với Anh, bởi ông tin rằng xứ sương mù sẽ không bao giờ can dự vào lục địa chừng nào ưu thế hải quân tuyệt đối của họ chưa bị xâm phạm. Việc ông rời khỏi vũ đài chính trị năm 1890 đã châm ngòi cho cuộc Chạy đua vũ trang hải quân Anh–Đức khốc liệt. Bất chấp các khoản ngân sách khổng lồ mà Tirpitz đổ vào các xưởng đóng tàu, sự xuất hiện của thiết giáp hạm HMS Dreadnought do Anh hạ thủy năm 1906 đã lập tức biến toàn bộ thế hệ thiết giáp hạm cũ thành đồ phế phẩm, trao lại cho London một lợi thế công nghệ áp đảo mà Berlin không thể san lấp. Rốt cuộc, người Đức tiêu tốn những nguồn lực khổng lồ chỉ để dựng nên một hạm đội đủ lớn để chọc giận nước Anh, nhưng lại không đủ mạnh để đánh bại đối thủ. Đến năm 1911, Thủ tướng Theobald von Bethmann Hollweg buộc phải thừa nhận thực tế này. Ông khởi xướng bước ngoặt vũ trang mang tên Rüstungswende, chính thức chuyển trọng tâm ngân sách quốc phòng từ hải quân trở lại lục quân.

Sự chuyển hướng này bắt nguồn từ mối lo ngại sâu sắc của Berlin trước đà phục hồi thần tốc của Đế quốc Nga sau thảm bại ở Chiến tranh Nga–Nhật cùng cuộc Cách mạng năm 1905. Từ sau năm 1908, các đợt cải cách kinh tế đã thúc đẩy mạng lưới đường sắt và hạ tầng vận tải của Nga mở rộng với tốc độ chóng mặt, đặc biệt dọc dải biên giới phía tây giáp Đức và Áo-Hung. Do Đức và Áo-Hung luôn dựa vào ưu thế tổng động viên thần tốc để bù đắp sự thua thiệt về quân số trước Nga, việc St. Petersburg rút ngắn được khoảng cách về thời gian điều động quân là mối đe dọa sinh tử, vượt xa tầm quan trọng của cuộc đua với hải quân Anh. Khi Đức bổ sung thêm 170.000 quân vào biên chế thường trực năm 1913, Pháp lập tức đáp trả bằng cách kéo dài thời gian thi hành nghĩa vụ quân sự từ hai năm lên ba năm. Động thái này kéo theo chuỗi biện pháp tương tự từ các quốc gia vùng Balkan, Ý, Đế quốc Ottoman cho tới Áo-Hung. Dù rất khó đối chiếu quy mô chi tiêu chính xác giữa các nước do sự khác biệt trong cách hạch toán (đặc biệt là việc bỏ qua các dự án hạ tầng giao thông dân dụng có công năng phục vụ quân sự), ước tính từ năm 1908 đến năm 1913, tổng ngân sách quốc phòng thực tế của sáu đại cường lục địa đã tăng vọt hơn 50%.

Các xung đột ở vùng Balkan

Bản đồ phân bố sắc tộc và ngôn ngữ tại Áo-Hung năm 1910, thời điểm Bosnia-Herzegovina đã bị sáp nhập vào lãnh thổ đế quốc.

Những năm cận kề năm 1914 chứng kiến hàng loạt cuộc khủng hoảng ngoại giao và xung đột quân sự liên miên bùng nổ tại vùng Balkan, nơi các nước lớn tìm cách nhảy vào lấp chỗ trống từ sự suy tàn không thể cứu vãn của Đế quốc Ottoman. Dưới ngọn cờ Chủ nghĩa Đại Slav và Chính thống giáo, Đế quốc Nga tự nhận cho mình sứ mệnh bảo hộ Serbia cùng các cộng đồng Slav trong vùng. Tuy nhiên, trong toan tính thực tế, St. Petersburg vẫn muốn các eo biển huyết mạch như Bosporus nằm trong tay một chính quyền Ottoman suy yếu, thay vì để rơi vào quyền kiểm soát của một thế lực Slav trẻ trung và giàu tham vọng như Bulgaria. Ngoài ra, Nga còn ấp ủ mục tiêu bành trướng ở đông bắc Anatolia, trong khi các đồng minh nhỏ tại Balkan lại có những đòi hỏi lãnh thổ chồng chéo lẫn nhau. Những toan tính chiến lược mâu thuẫn này vừa gây chia rẽ sâu sắc trong nội bộ giới hoạch định chính sách Nga, vừa biến tình hình khu vực thêm hỗn loạn.

Về phía Áo-Hung, giới lãnh đạo đế quốc coi vùng Balkan là không gian sinh tồn sống còn và xem sự trỗi dậy của một nước Serbia bành trướng là mối đe dọa trực tiếp đến sự toàn vẹn lãnh thổ của mình. Cuộc Khủng hoảng Bosnia (1908–1909) nổ ra khi Viên quyết định sáp nhập tỉnh cũ của Ottoman là Bosnia và Herzegovina, vùng đất mà quân Áo đã đồn trú chiếm đóng từ năm 1878. Được tính toán trùng khớp với thời điểm diễn ra Tuyên ngôn Độc lập của Bulgaria, hành động đơn phương tước đoạt chủ quyền này vấp phải sự phản đối kịch liệt từ các cường quốc, song cuối cùng châu Âu đành chấp nhận sự việc đã rồi do không tìm được tiếng nói chung để đảo ngược tình thế. Giới sử học coi đây là nấc thang căng thẳng nguy hiểm, vừa dập tắt mọi khả năng thỏa hiệp giữa Áo và Nga tại vùng Balkan, vừa đẩy quan hệ ngoại giao giữa Serbia và Ý rơi vào tình trạng đóng băng.

Sóng gió tiếp tục dâng cao khi cuộc Chiến tranh Ý – Thổ Nhĩ Kỳ (1911–1912) bộc lộ sự bất lực toàn diện của quân đội Ottoman, tạo điều kiện cho Liên minh Balkan (gồm Serbia, Bulgaria, Montenegro và Hy Lạp) ra đời. Trong cuộc Chiến tranh Balkan lần thứ nhất (1912–1913), liên minh này đã đồng loạt nổ súng và nhanh chóng quét sạch phần lớn lãnh thổ của Ottoman khỏi bán đảo Balkan trước sự kinh ngạc của giới quan sát quốc tế. Việc quân đội Serbia tiến ra chiếm đóng các hải cảng trên bờ biển Adriatic đã khiến Áo-Hung hoảng hốt ban bố lệnh tổng động viên một phần vào ngày 21 tháng 11 năm 1912, tập trung các sư đoàn chủ lực áp sát biên giới Nga tại Galicia. Tuy nhiên, do chưa chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc đối đầu vũ trang toàn diện, chính phủ Nga đã nhẫn nhịn và quyết định không động viên đáp trả.

Các cường quốc sau đó vội vã nhóm họp nhằm tái lập trật tự bằng Hiệp ước Luân Đôn (1913), khai sinh ra nhà nước Albania độc lập đồng thời phân chia lại đất đai cho Bulgaria, Serbia, Montenegro và Hy Lạp. Dẫu vậy, việc phân chia chiến lợi phẩm không đều đã châm ngòi cho cuộc Chiến tranh Balkan lần thứ hai bùng nổ chỉ sau đó ít lâu. Ngày 16 tháng 6 năm 1913, Bulgaria bất ngờ nổ súng tấn công các đồng minh cũ là Serbia và Hy Lạp, nhưng nhanh chóng chuốc lấy thảm bại. Sau 33 ngày giao tranh, Sofia mất gần như toàn bộ phần đất Macedonia vừa chiếm được vào tay Serbia và Hy Lạp, đồng thời phải nhượng cả vùng Nam Dobruja cho Romania. Khép lại hai cuộc chiến, ngay cả những nước thắng trận như Serbia và Hy Lạp vẫn ấm ức vì cho rằng mình bị tước đoạt phần thưởng xứng đáng. Về phía Áo-Hung, cuộc chiến phơi bày sự thờ ơ đáng báo động của các nước lớn trước những lợi ích an ninh thiết thân của họ, thậm chí cả từ phía đồng minh thân cận nhất là Đức. Nỗi uất hận dồn nén, chủ nghĩa dân tộc cực đoan cùng cảm giác bất an bao trùm giữa các bên đã biến Balkan trở thành "thùng thuốc súng của châu Âu", chỉ chờ một tia lửa để nổ tung.

Mở đầu

Vụ ám sát tại Sarajevo

Bức ảnh từng bị lầm tưởng là chụp lại cảnh bắt giữ Gavrilo Princip (bên phải), nhưng giới sử gia ngày nay xác định đây chỉ là một người qua đường vô tội có tên Ferdinand Behr, chụp vào ngày 28 tháng 6 năm 1914.

Vào ngày 28 tháng 6 năm 1914, Đại công tước Franz Ferdinand của Áo, người kế vị ngai vàng của Hoàng đế Franz Joseph I của Áo, đã tới thăm Sarajevo, thủ phủ vùng Bosnia và Herzegovina vừa bị sáp nhập. Nhóm tay súng thuộc phong trào Bosnia Trẻ gồm Cvjetko Popović, Gavrilo Princip, Nedeljko Čabrinović, Trifko Grabež, Vaso Čubrilović (người Serb tại Bosnia) và Muhamed Mehmedbašić (thuộc cộng đồng người Bosniak), đã đón lõng tại các vị trí dọc lộ trình di chuyển của đoàn xe hoàng gia để mưu sát ông. Được các phần tử quá khích thuộc mạng lưới tình báo Bàn tay Đen của Serbia ngầm cung cấp vũ khí, nhóm này hy vọng cái chết của Đại công tước sẽ giúp giải phóng Bosnia khỏi ách thống trị của Áo.

Mở đầu cuộc tấn công, Čabrinović ném một quả lựu đạn về phía xe của Franz Ferdinand, song nó chỉ làm hư hại xe sau và khiến hai tùy tùng bị thương. Các tay súng mai phục khác cũng lần lượt lỡ thời cơ. Khoảng một giờ sau, khi Đại công tước trên đường quay lại để vào bệnh viện thăm hỏi các sĩ quan bị thương, tài xế bất ngờ rẽ nhầm vào góc phố nơi Gavrilo Princip đang đứng. Chớp lấy cơ hội, Princip rút súng lục bắn hai phát cự ly gần, khiến cả Franz Ferdinand lẫn phu nhân Sophie bị thương nặng rồi qua đời ngay sau đó.

Theo nhà sử học Zbyněk Zeman, bầu không khí tại Viên lúc đầu "gần như không mấy bận tâm đến biến cố này. Trong hai ngày 28 và 29 tháng 6, dân chúng vẫn mải mê nghe nhạc và uống rượu như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra." Dẫu vậy, tác động ngầm từ cái chết của người kế vị ngai vàng là vô cùng dữ dội. Nhà sử học Christopher Clark đã ví sự kiện này như một "hiệu ứng 11/9, một vụ khủng bố mang tính bước ngoặt lịch sử làm đảo lộn toàn bộ cán cân chính trị tại Viên".

Bạo lực lan rộng tại Bosnia và Herzegovina

Cảnh tượng đường phố đổ nát sau làn sóng bạo loạn bài trừ người Serb tại Sarajevo, ngày 29 tháng 6 năm 1914

Chính quyền Áo-Hung nhanh chóng dung túng và ngầm kích động các cuộc bạo loạn nhắm vào cộng đồng người Serb bùng phát tại Sarajevo ngay sau vụ ám sát. Làn sóng bạo lực bài người Serb nhanh chóng lan rộng ra ngoài phạm vi thủ phủ, tràn qua nhiều đô thị khác thuộc Bosnia và Herzegovina, Croatia cùng Slovenia do Áo-Hung cai trị. Giới chức đế quốc tại Bosnia và Herzegovina đã bắt giữ khoảng 5.500 nhân vật người Serb có uy tín, trong đó từ 700 đến 2.200 người đã chết mòn trong ngục tù. Thêm 460 người Serb khác bị kết án tử hình. Một lực lượng bán quân sự hỗ trợ chủ yếu gồm các tay súng Bosniak mang tên Schutzkorps được thành lập để trực tiếp triển khai các chiến dịch thanh trừng và đàn áp người Serb.

Khủng hoảng tháng Bảy

Dân chúng đổ ra các đại lộ tại Luân Đôn và Paris reo hò ủng hộ trong ngày tuyên chiến

Tiếng súng Sarajevo đã thổi bùng cuộc Khủng hoảng tháng Bảy, chuỗi biến động ngoại giao căng thẳng kéo dài suốt một tháng giữa các cường quốc Áo-Hung, Đức, Nga, Pháp và Anh. Tin chắc rằng tình báo Serbia đứng sau giật dây vụ ám sát, giới lãnh đạo Áo-Hung muốn tận dụng ngay thời cơ này để triệt phá ảnh hưởng của Serbia tại Bosnia, coi giải pháp quân sự là con đường duy nhất để giải quyết dứt điểm vấn đề. Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao tại Viên lại không thu thập được chứng cứ trực tiếp nào chứng minh sự tham gia của chính phủ Serbia. Ngày 23 tháng 7, Áo-Hung gửi một bản tối hậu thư tới Serbia gồm mười điều khoản ngặt nghèo, được chủ ý tính toán để đối phương không thể chấp thuận, qua đó tạo cớ danh chính ngôn thuận để nổ súng.

Trước tình thế hiểm nghèo, chính quyền Serbia ban bố lệnh tổng động viên vào ngày 25 tháng 7, đồng thời gửi phúc đáp chấp nhận phần lớn các đòi hỏi, chỉ từ chối hai điểm mấu chốt: cho phép đại diện Áo-Hung vào nội địa đàn áp "các phần tử lật đổ" và tham gia quá trình điều tra, xét xử công dân Serbia dính líu đến vụ ám sát. Lấy cớ phản hồi trên là một lời khước từ trá hình, Áo-Hung lập tức cắt đứt quan hệ ngoại giao và phát lệnh tổng động viên một phần vào ngày hôm sau. Đến ngày 28 tháng 7, Viên chính thức tuyên chiến với Serbia và bắt đầu dùng trọng pháo nã vào Belgrade. Để bảo vệ đồng minh Serbia, Nga cũng hạ lệnh tổng động viên quân đội vào ngày 30 tháng 7.

Vì muốn tranh thủ sự ủng hộ từ phe đối lập SPD trong nước bằng cách xây dựng hình ảnh nước Nga là kẻ châm ngòi chiến tranh trước, Thủ tướng Đức Bethmann Hollweg đã cố tình trì hoãn các bước chuẩn bị quân sự tới tận ngày 31 tháng 7. Chiều cùng ngày, Berlin gửi công hàm tối hậu thư đòi Nga phải "chấm dứt mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh nhắm vào Đức và Áo-Hung" trong thời hạn 12 giờ. Một yêu cầu khác từ phía Đức đòi hỏi Pháp phải giữ thái độ trung lập cũng bị Paris bác bỏ; chính phủ Pháp nhanh chóng phê chuẩn lệnh tổng động viên nhưng vẫn chưa vội tuyên chiến. Bộ Tổng tham mưu Đức vốn đã lường trước kịch bản phải tác chiến trên cả hai mặt trận; Kế hoạch Schlieffen của họ vạch sẵn phương án dồn tới 80% binh lực nhằm nhanh chóng hạ gục Pháp trước khi quay sang đối phó với Nga. Vì kế hoạch tác chiến này đòi hỏi tốc độ thần tốc, các lệnh động viên quân đội Đức lập tức được ban bố ngay trong buổi chiều hôm đó. Đến sáng ngày 1 tháng 8, khi thời hạn gửi cho Nga kết thúc mà không có hồi đáp, hai nước chính thức rơi vào tình trạng chiến tranh.

Tại London, cuộc họp nội các ngày 29 tháng 7 từng bỏ phiếu sít sao đi đến nhận định rằng các điều khoản trong Hiệp ước Luân Đôn (1839) chưa bắt buộc Anh phải can thiệp quân sự để bảo vệ Bỉ trước một cuộc xâm lược từ Đức. Dẫu vậy, Thủ tướng Asquith cùng các bộ trưởng chủ chốt vốn đã nghiêng về cam kết hậu thuẫn Pháp; Hải quân Hoàng gia được đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu, và dư luận công chúng xứ sở sương mù cũng rực lửa ủng hộ can thiệp. Ngày 31 tháng 7, London gửi công hàm yêu cầu cả Đức lẫn Pháp phải tôn trọng nền trung lập của Bỉ; Pháp đồng ý ngay, còn Đức hoàn toàn giữ im lặng. Nắm được tin tình báo về ý đồ đánh bọc sườn qua ngả Bỉ của Đức, Tổng tư lệnh quân đội Pháp Joseph Joffre đã xin phép chính phủ cho điều quân vượt biên giới để lập phòng tuyến đánh chặn từ sớm. Tuy nhiên, để tránh bị mang tiếng vi phạm nền trung lập của Brussels, nội các Pháp chỉ thị mọi động thái quân sự chỉ được phép kích hoạt sau khi quân Đức thực sự nổ súng tràn qua. Thậm chí, chính phủ Pháp còn yêu cầu các đơn vị tiền tuyến chủ động lùi sâu 10 km phía sau biên giới giáp Đức để tránh các va chạm khiêu khích vô cớ. Ngày 2 tháng 8, Đức tràn vào chiếm đóng Luxembourg và xảy ra đấu súng với các đội trinh sát biên phòng Pháp. Sang ngày 3 tháng 8, Berlin chính thức tuyên chiến với Paris, đồng thời gửi tối hậu thư đòi mượn đường qua lãnh thổ Bỉ nhưng bị thẳng thừng cự tuyệt. Rạng sáng ngày 4 tháng 8, quân Đức ồ ạt vượt biên giới tràn vào Bỉ, buộc Vua Albert I của Bỉ phải gửi thư khẩn cấp cầu viện các nước ký kết Hiệp ước Luân Đôn. Ngay sau đó, chính phủ Anh gửi tối hậu thư yêu cầu Berlin lập tức rút quân khỏi lãnh thổ Bỉ; đến nửa đêm cùng ngày, khi hạn chót trôi qua trong vô vọng, hai đế quốc chính thức bước vào tình trạng chiến tranh.

Diễn biến chiến tranh

Mở đầu chiến sự

Sự lúng túng trong phe Liên minh Trung tâm

Đức cam kết hậu thuẫn cuộc tấn công của Áo-Hung vào Serbia, song cách hiểu về cam kết này giữa hai bên lại bộc lộ nhiều điểm chênh lệch. Các phương án bố phòng tác chiến từng thử nghiệm trước đây đã bị thay thế vào đầu năm 1914, nhưng hệ thống kế hoạch mới này chưa từng được đưa ra diễn tập thực địa. Trong khi đó, giới lãnh đạo Áo-Hung lại ngây thơ tin chắc rằng người Đức sẽ gánh vác trách nhiệm che chắn sườn phía bắc của họ trước mũi tiến công từ nước Nga.

Chiến dịch Serbia

Chiếc máy bay Blériot XI mang tên "Oluj" của Quân đội Serbia, năm 1915

Bắt đầu từ ngày 12 tháng 8, các cánh quân Áo và Serbia va chạm dữ dội trong các trận đánh lớn tại Cer và Kolubara. Suốt hai tuần giao tranh sau đó, các đợt công kích của quân Áo đều bị bẻ gãy với tổn thất nhân mạng nặng nề. Cục diện này buộc Viên phải giam chân một lực lượng quân sự đáng kể tại mặt trận Serbia, làm suy yếu trực tiếp khả năng tác chiến của họ trước đối thủ sừng sỏ là Nga. Thắng lợi của Serbia trước cuộc xâm lăng của đế quốc Áo-Hung năm 1914 được giới sử gia đánh giá là một trong những màn lội ngược dòng ngoạn mục nhất của lịch sử chiến tranh thế kỷ 20. Đến năm 1915, chiến trường này cũng ghi nhận lần đầu tiên tác chiến phòng không xuất hiện trong thực tế sau khi một máy bay Áo bị hỏa lực đất đối không bắn hạ, đồng thời cũng chứng kiến hoạt động sơ tán thương binh bằng đường hàng không đầu tiên trong lịch sử do phía Serbia thực hiện.

Cuộc tấn công của Đức tại Bỉ và Pháp

Binh sĩ Đức trên toa tàu hỏa hướng ra mặt trận năm 1914; thời điểm này các bên đều tin rằng chiến tranh sẽ kết thúc chóng vánh trong vài tháng.

Khi lệnh tổng động viên được phát ra, theo tính toán của Kế hoạch Schlieffen, 80% binh lực Quân đội Đức được dồn sang Mặt trận phía Tây, phần còn lại làm lực lượng che chắn mỏng manh ở phía Đông. Thay vì đâm thẳng vào tuyến phòng ngự kiên cố dọc biên giới chung, cánh phải của Đức sẽ quét ồ ạt qua Hà Lan và Bỉ, sau đó ngoặt gấp xuống phương nam để bao vây thủ đô Paris và ép toàn bộ quân Pháp vào thế chân tường dọc biên giới Thụy Sĩ. Tác giả của phương án này, Thống chế Alfred von Schlieffen (Tổng tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu Đức giai đoạn 1891–1906), ước tính chiến dịch chỉ mất sáu tuần để giải quyết xong nước Pháp, trước khi quay ngược mũi giáo sang phía Đông hạ gục người Nga.

Tuy nhiên, người kế nhiệm ông là Helmuth von Moltke Trẻ đã xáo trộn đáng kể cấu trúc kế hoạch này. Dưới thời Schlieffen, có tới 85% lực lượng phía tây được ưu tiên cho cánh phải thọc sâu, phần ít ỏi còn lại chỉ làm nhiệm vụ giữ chân đối phương dọc biên giới. Bằng cách cố ý nới lỏng cánh trái, Schlieffen muốn nhử quân Pháp dốc toàn lực đánh vào "các tỉnh đã mất" ở Alsace-Lorraine đúng theo kịch bản Kế hoạch XVII của Pháp. Dẫu vậy, Moltke ngày càng bất an trước nguy cơ sườn trái bị chọc thủng. Khi quân đội Đức tăng nhanh quân số trong giai đoạn 1908–1914, ông đã điều chỉnh tỷ lệ bố phòng giữa hai cánh thành 70:30. Ông cũng coi việc tôn trọng nền trung lập của Hà Lan là then chốt để duy trì giao thương hàng hải của Đức, do đó đã hủy bỏ mũi tiến quân qua lãnh thổ Hà Lan. Quyết định này đồng nghĩa với việc mọi ách tắc dù là nhỏ nhất tại cửa ngõ Bỉ đều sẽ đe dọa trực tiếp đến sự thành bại của toàn bộ chiến dịch. Nhà sử học quân sự Richard Holmes nhận định rằng những nước cờ chắp vá này đã biến cánh phải của Đức trở nên quá mỏng, không còn đủ sức giáng một đòn định đoạt cục diện.

Bộ binh Pháp xung phong bằng lưỡi lê trong Trận Biên giới Bắc Pháp; tính đến cuối tháng 8 năm 1914, tổn thất của Pháp đã vượt mức 260.000 người, trong đó có khoảng 75.000 lính tử trận.

Giai đoạn đầu của cuộc tiến công phía tây diễn ra thuận lợi cho quân Đức. Đến cuối tháng 8, cánh trái của phe Hiệp ước (bao gồm cả Lực lượng Viễn chinh Anh) đã phải rút lui tán loạn, trong khi đòn đánh của Pháp vào Alsace-Lorraine vỡ vụn với thương vong lên tới hơn 260.000 quân. Dù kế hoạch tác chiến của Đức cho phép các tướng lĩnh mặt trận quyền tự quyết linh hoạt dựa trên định hướng chiến lược chung, Thượng tướng Alexander von Kluck đã lạm dụng điều này để làm trái lệnh cấp trên. Hành động tự ý rẽ hướng truy kích của Kluck đã tạo ra một khoảng trống nguy hiểm giữa các tập đoàn quân Đức khi họ áp sát Paris. Nhanh chóng nắm lấy sơ hở chí mạng này, quân đội Pháp cùng quân viễn chinh Anh tổ chức một cuộc phản công thần tốc, đẩy lùi các cánh quân Đức về phía sau từ 40 đến 80 km. Sau cuộc đụng độ dữ dội, cả hai bên đều rơi vào tình trạng kiệt quệ đến mức không thể tổ chức thêm đòn đánh quyết định nào, đành chôn chân trong các chiến hào với hy vọng mong manh sẽ phá vỡ phòng tuyến đối phương khi tập trung đủ hỏa lực cục bộ.

Ở mặt trận phía đông, ngay từ năm 1911, Bộ Tổng tư lệnh quân đội Nga (Stavka) đã cam kết với Pháp sẽ nổ súng đánh sang Đức chỉ trong vòng 15 ngày sau lệnh tổng động viên, sớm hơn 10 ngày so với mọi tính toán phòng thủ của Berlin. Để giữ đúng cam kết này, hai tập đoàn quân Nga đã chấp nhận vượt biên giới tiến vào Đông Phổ từ ngày 17 tháng 8 trong tình trạng thiếu thốn trầm trọng về hậu cần và phương tiện bảo đảm.

Khép lại năm 1914, quân đội Đức vẫn giữ vững các bàn đạp kiên cố khoét sâu trong lòng đất Pháp, thâu tóm phần lớn các mỏ than huyết mạch của đối phương và khiến liên quân Pháp và Anh chịu thiệt hại nhiều hơn 230.000 quân so với tổn thất của chính mình. Dù vậy, những trục trặc liên lạc cùng hàng loạt quyết định tác chiến sai lầm đã cướp đi thời cơ vàng để hạ gục đối thủ, đồng thời biến mục tiêu tối thượng là tránh cuộc chiến tiêu hao trên cả hai mặt trận hoàn toàn phá sản. Nhận thức rõ ràng trước mắt nhiều nhân vật chóp bu tại Berlin, đây thực chất là một thất bại chiến lược cay đắng. Ngay sau Trận Marne lần thứ nhất, Thái tử Đức Wilhelm đã cay đắng thừa nhận với một ký giả người Mỹ: "Chúng ta đã thua cuộc chiến này rồi. Nó sẽ còn kéo dài lê thê, nhưng về cơ bản chúng ta đã nắm chắc thất bại."

Châu Á và Thái Bình Dương

Binh lính Nhật Bản thuộc Sư đoàn 18 kiểm soát một chiến hào chiếm được từ quân Đức trong Cuộc vây hãm Thanh Đảo, năm 1914.

Ngày 30 tháng 8 năm 1914, quân đội New Zealand nhanh chóng tiếp quản Samoa thuộc Đức (nay là Samoa). Đến ngày 11 tháng 9, Lực lượng Viễn chinh Quân sự và Hải quân Úc đổ bộ đánh chiếm đảo New Britain, bấy giờ là một phần lãnh thổ của New Guinea thuộc Đức. Sang ngày 28 tháng 10, tuần dương hạm Đức SMS Emden đánh chìm tuần dương hạm Zhemchug của Nga ngay trong Trận Penang. Về phía Nhật Bản, sau khi tuyên chiến với Đức, quân đội nước này lần lượt chiếm giữ các hòn đảo rải rác trên Thái Bình Dương (về sau trở thành lãnh thổ Ủy thác Nam Dương), đồng thời tấn công các tô giới của Đức tại bán đảo Sơn Đông trong trận bao vây Thanh Đảo. Sau khi chính quyền Viên từ chối rút tuần dương hạm SMS Kaiserin Elisabeth khỏi quân cảng này, Nhật Bản tiếp tục tuyên chiến với Áo-Hung, buộc chiến hạm này phải tự đánh đắm vào tháng 11 năm 1914 để tránh rơi vào tay đối phương. Chỉ sau vài tháng nổ súng, phe Hiệp ước đã xóa sổ gần như toàn bộ sự hiện diện của Đức tại Thái Bình Dương, chỉ còn sót lại một vài tàu cướp phá thương mại hoạt động đơn lẻ cùng những ổ kháng cự nhỏ lẻ bị cô lập tại New Guinea.

Các chiến dịch tại châu Phi

Trận địa pháo binh của quân đội Anh tại Kamerun, năm 1915

Những phát súng đầu tiên của Thế chiến thứ nhất thực tế đã nổ ra giữa các đạo quân thuộc địa của Anh, Pháp và Đức trên lục địa đen. Từ ngày 6 đến ngày 7 tháng 8 năm 1914, liên quân Anh và Pháp mở chiến dịch đánh chiếm các xứ bảo hộ Togoland và Kamerun của Đức. Sang ngày 10 tháng 8, quân Đức từ Tây Nam Phi tràn sang tấn công lãnh thổ Nam Phi; các cuộc giao tranh dữ dội nhưng phân tán này kéo dài dai dẳng suốt thời gian còn lại của cuộc chiến. Đáng chú ý, lực lượng phòng thủ của Đức tại Đông Phi thuộc Đức dưới sự chỉ huy tài tình của Đại tá Paul von Lettow-Vorbeck đã kiên cường áp dụng chiến thuật chiến tranh du kích làm tiêu hao nặng nề quân Đồng minh, và chỉ chịu hạ vũ khí đầu hàng hai tuần sau khi hiệp định đình chiến tại châu Âu chính thức có hiệu lực.

Sự hỗ trợ của Ấn Độ cho phe Hiệp ước

Binh lính thuộc các sư đoàn bộ binh Quân đội Ấn Độ thuộc Anh hành quân ra chiến hào tại vùng Flanders; các đơn vị này được rút lui vào tháng 12 năm 1915 để điều động sang Chiến dịch Lưỡng Hà.

Trước khi chiến tranh bùng nổ, Đế quốc Đức từng tìm cách khuấy động chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ và phong trào Liên Hồi giáo để làm suy yếu đối thủ. Sau năm 1914, Berlin tiếp tục đường lối này bằng việc ngầm kích động các cuộc nổi dậy vũ trang trên tiểu lục địa, đồng thời cử Phái bộ Niedermayer-Hentig sang thuyết phục Afghanistan tham chiến bên cạnh khối Trung tâm. Trái với những lo âu của giới cai trị Anh về một cuộc khởi nghĩa quy mô lớn, sự bùng nổ của cuộc chiến lại khiến các phong trào ly khai tạm thời lắng xuống. Các nhà lãnh đạo của Đảng Quốc Đại Ấn Độ cùng nhiều tổ chức chính trị tin rằng việc dốc lòng ủng hộ mẫu quốc trong cơn hoạn nạn sẽ giúp Ấn Độ nhanh chóng được trao quy chế tự trị, một lời hứa hẹn từng được Edwin Montagu (Bộ trưởng phụ trách các vấn đề Ấn Độ) ngầm khẳng định vào năm 1917.

Vào năm 1914, quân số thường trực của Quân đội Ấn Độ thuộc Anh thậm chí còn đông đảo hơn cả lực lượng lục quân chính quy của chính quốc. Ước tính trong suốt giai đoạn 1914–1918, có tới 1,3 triệu binh lính và phu phen người Ấn đã được huy động phục vụ trên khắp các chiến trường châu Âu, châu Phi và Trung Đông. Trong số đó, khoảng 140.000 lính đã chiến đấu trực tiếp tại Mặt trận phía Tây và gần 700.000 người tham chiến tại Trung Đông, với tổn thất lên tới 47.746 người tử trận cùng 65.126 người bị thương. Những mất mát to lớn về sinh mạng cùng thái độ bội ước sau chiến tranh của chính quyền London khi từ chối trao trả quyền tự trị đã thổi bùng làn sóng phẫn nộ tột cùng, đặt nền móng cho chiến dịch đòi độc lập hoàn toàn do Mahatma Gandhi khởi xướng.

Mặt trận phía Tây

Chiến tranh chiến hào bùng nổ

Binh lính Ấn Độ thuộc Anh đào chiến hào tại Laventie, Pháp, năm 1915

Chiến thuật quân sự trước chiến tranh vốn chú trọng vào tác chiến vận động và các xạ thủ bộ binh đơn lẻ đã tỏ ra lỗi thời trước những điều kiện thực tế của năm 1914. Dây kẽm gai, súng máy và pháo binh đã tạo nên những hệ thống phòng thủ kiên cố, khiến các đợt xung phong ồ ạt của bộ binh trở nên cực kỳ khó khăn. Cả hai bên đều chật vật tìm kiếm chiến thuật chọc thủng các phòng tuyến chiến hào mà không phải trả giá bằng thương vong quá nặng nề. Theo thời gian, xe tăng đã góp phần đưa tính cơ động trở lại mặt trận.

Sau Trận Marne lần thứ nhất vào tháng 9 năm 1914, các lực lượng phe Hiệp ước và Đức đã nỗ lực vu hồi bọc sườn lẫn nhau nhưng đều bất thành—một chuỗi diễn biến cơ động sau này được gọi là cuộc "Chạy đua ra biển". Đến cuối năm 1914, hai bên đối đầu trực diện dọc theo một chiến tuyến chiến hào trải dài không gián đoạn từ eo biển Manche đến tận biên giới Thụy Sĩ. Do quân Đức thường có quyền chủ động chọn vị trí phòng thủ, họ thường chiếm giữ các cao điểm và hệ thống chiến hào của họ cũng được xây dựng kiên cố hơn; ngược lại, các chiến hào do Anh và Pháp đào ban đầu chỉ được xem là "tạm bợ", chỉ cần thiết cho đến khi một đợt tấn công phá vỡ phòng tuyến của Đức được triển khai. Cả hai phía đều tìm cách phá vỡ thế bế tắc bằng các tiến bộ khoa học và công nghệ. Ngày 22 tháng 4 năm 1915, trong Trận Ypres lần thứ hai, quân Đức (vi phạm Công ước La Haye) đã sử dụng khí chlorine lần đầu tiên trên Mặt trận phía Tây.

Chiến tranh chiến hào tiếp diễn

Thương vong của lính Đức tại Somme, năm 1916

Vào tháng 2 năm 1916, quân Đức tấn công các vị trí phòng thủ của Pháp tại Trận Verdun, kéo dài đến tận tháng 12 năm 1916. Tổn thất của quân Pháp nặng nề hơn, nhưng quân Đức cũng bị hao tổn sinh lực nghiêm trọng, với con số thương vong dao động từ 700.000 đến 975.000 người cho cả hai bên tham chiến. Verdun đã trở thành biểu tượng cho lòng quả cảm và tinh thần xả thân của nước Pháp.

Trận Somme là chiến dịch tấn công phối hợp giữa Anh và Pháp diễn ra từ tháng 7 đến tháng 11 năm 1916. Ngày mở màn, 1 tháng 7 năm 1916, là ngày đẫm máu nhất trong lịch sử Quân đội Anh, với 57.500 lính thương vong, bao gồm 19.200 người tử trận. Tính chung toàn chiến dịch, cuộc tấn công tại Somme đã cướp đi sinh lực của ước tính 420.000 lính Anh, 200.000 lính Pháp và 500.000 lính Đức. Dịch bệnh bùng phát trong chiến hào cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho cả hai bên. Điều kiện sinh hoạt tồi tàn đã làm lây lan nhiều mầm bệnh và viêm nhiễm, như chứng bàn chân chiến hào, chấy rận, thương hàn, sốt chiến hào, và đại dịch cúm Tây Ban Nha.

Chiến tranh trên biển

Các thiết giáp hạm của Hạm đội Biển khơi Đức, năm 1917

Vào thời điểm chiến tranh bùng nổ, các tàu tuần dương của Đức nằm rải rác trên khắp các đại dương, một số trong đó sau đó đã được sử dụng để tấn công đội tàu buôn của phe Hiệp ước. Các tàu này bị Hải quân Hoàng gia Anh ráo riết truy lùng, song cũng kịp gây ra thiệt hại đáng kể. Nổi bật nhất là tàu SMS Emden, thuộc Hải đội Đông Á đồn trú tại Thanh Đảo, đã bắt giữ hoặc đánh chìm 15 tàu buôn, một tuần dương hạm của Nga và một tàu khu trục của Pháp. Phần lớn hải đội này trên đường quay về Đức đã đánh chìm hai tuần dương hạm bọc thép của Anh tại Trận Coronel vào tháng 11 năm 1914, trước khi gần như bị xóa sổ hoàn toàn tại Trận chiến quần đảo Falkland= vào tháng 12. Tàu SMS Dresden trốn thoát cùng một số tàu phụ trợ, nhưng sau Trận Más a Tierra, những con tàu này cũng bị tiêu diệt hoặc bị giam giữ.

Ngay sau khi chiến sự bùng phát, Anh đã thiết lập một cuộc phong tỏa hải quân đối với Đức. Biện pháp này đã chứng minh tính hiệu quả rõ rệt trong việc cắt đứt các nguồn tiếp tế thiết yếu, dù nó vi phạm luật pháp quốc tế được thừa nhận. Nước Anh cũng rải thủy lôi tại các vùng biển quốc tế, phong tỏa hoàn toàn nhiều khu vực trên đại dương ngay cả đối với các tàu trung lập. Nhận thấy các hành động này chỉ vấp phải phản ứng yếu ớt, Đức kỳ vọng sẽ nhận được phản ứng tương tự đối với chiến dịch chiến tranh tàu ngầm không hạn chế của mình.

Trận Jutland diễn ra vào tháng 5 và tháng 6 năm 1916 là cuộc đối đầu quy mô lớn duy nhất giữa các thiết giáp hạm trong toàn cuộc chiến, và là một trong những trận hải chiến lớn nhất lịch sử. Cuộc đụng độ bất phân thắng bại, mặc dù phía Đức gây ra nhiều thiệt hại hơn tổn thất nhận lại; từ sau trận đánh này, phần lớn Hạm đội Biển khơi của Đức đành phải nằm yên trong cảng.

Tàu ngầm U-155 được trưng bày gần Cầu Tháp Luân Đôn sau Hiệp định Đình chiến năm 1918

Các tàu ngầm U-boat của Đức đã cố gắng cắt đứt các tuyến tiếp tế giữa Bắc Mỹ và Anh. Bản chất của chiến tranh tàu ngầm đồng nghĩa với việc các đòn tấn công thường diễn ra không báo trước, khiến thủy thủ đoàn trên các tàu buôn có rất ít hy vọng sống sót. Hoa Kỳ đã lên tiếng phản đối, buộc Đức phải thay đổi quy tắc giao chiến. Sau vụ đánh chìm tàu chở khách RMS Lusitania vào năm 1915, Đức cam kết không nhắm mục tiêu vào các tàu khách, trong khi Anh lại vũ trang cho các tàu buôn của mình, đưa chúng ra ngoài phạm vi bảo vệ của "quy tắc tuần dương hạm", quy tắc đòi hỏi phải phát cảnh báo và đưa thủy thủ đoàn đến "nơi an toàn" (tiêu chuẩn mà thuyền cứu sinh không đáp ứng được). Cuối cùng, vào đầu năm 1917, Đức đã tái áp dụng chính sách chiến tranh tàu ngầm không hạn chế do nhận thức được rằng người Mỹ sớm muộn cũng sẽ tham chiến. Đức tìm cách bóp nghẹt các tuyến vận tải biển của phe Hiệp ước trước khi Hoa Kỳ kịp điều chuyển một đội quân lớn qua đại dương, nhưng sau những thành công ban đầu, nỗ lực này cuối cùng đã thất bại.

Mối đe dọa từ U-boat suy giảm vào năm 1917 khi các tàu buôn bắt đầu di chuyển thành các đoàn hộ tống, được các tàu khu trục hộ tống. Chiến thuật này khiến U-boat khó tìm kiếm mục tiêu hơn, giúp giảm tổn thất đáng kể; sau khi [máy dò âm dưới nước]] và bom chống ngầm được đưa vào sử dụng, các tàu khu trục đã có khả năng tấn công tiêu diệt tàu ngầm đang lặn. Các đoàn tàu vận tải làm chậm tốc độ tiếp tế do tàu thuyền phải tập kết chờ đợi nhau; giải pháp lúc bấy giờ là triển khai chương trình đóng mới tàu chở hàng trên diện rộng. Các tàu chở quân có tốc độ quá nhanh so với tàu ngầm nên không cần di chuyển theo đoàn qua Bắc Đại Tây Dương. Các tàu U-boat đã đánh chìm hơn 5.000 tàu của phe Hiệp ước, với cái giá phải trả là 199 tàu ngầm bị phá hủy.

Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng chứng kiến việc lần đầu tiên tàu sân bay tham gia tác chiến, khi tàu HMS Furious phóng các máy bay Sopwith Camel trong một đòn không kích thành công nhằm vào các nhà chứa khí cầu Zeppelin tại Tondern vào tháng 7 năm 1918, cùng với việc sử dụng khí cầu mềm để tuần tra chống ngầm.

Các chiến trường phía Nam

Chiến tranh tại Balkan

Đoàn người tị nạn từ Serbia tại Leibnitz, Styria, năm 1914

Phải đối đầu với Nga ở phía đông, Áo-Hung chỉ có thể dành một phần ba quân số để tấn công Serbia. Sau khi chịu nhiều tổn thất nặng nề, quân Áo đã chiếm đóng ngắn ngủi thủ đô Belgrade của Serbia. Đòn phản công của Serbia trong Trận Kolubara đã thành công trong việc đánh bật quân Áo ra khỏi biên giới vào cuối năm 1914. Trong 10 tháng đầu năm 1915, Áo-Hung phải dùng hầu hết lực lượng dự bị quân sự để đối phó với Ý. Các nhà ngoại giao Đức và Áo-Hung đã tạo nên bước ngoặt khi thuyết phục được Bulgaria tham chiến tấn công Serbia. Các tỉnh Slovenia, Croatia và Bosnia thuộc Áo-Hung đã đóng góp binh lực cho quân đội đế quốc. Montenegro đứng về phía liên minh với Serbia.

Binh lính Bulgaria trong chiến hào chuẩn bị bắn máy bay đang tiếp cận

Bulgaria tuyên chiến với Serbia vào ngày 14 tháng 10 năm 1915 và hợp sức cùng tập đoàn quân Áo-Hung gồm 250.000 quân dưới quyền tướng Mackensen vốn đã bắt đầu tấn công từ trước. Serbia bị đánh bại chỉ trong hơn một tháng khi phe Liên minh Trung tâm (lúc này có thêm Bulgaria) huy động tổng cộng 600.000 quân. Quân đội Serbia phải tác chiến trên hai mặt trận và đứng trước thất bại không thể tránh khỏi, buộc phải rút lui về phía bắc Albania. Quân Serbia chịu thất bại trong Trận Kosovo. Montenegro đã yểm trợ cuộc rút lui của Serbia về phía bờ biển Adriatic trong Trận Mojkovac vào ngày 6–7 tháng 1 năm 1916, nhưng cuối cùng người Áo cũng chiếm được toàn bộ Montenegro. Những người lính Serbia sống sót được sơ tán sang Hy Lạp. Sau khi bị chiếm đóng, Serbia bị phân chia quyền kiểm soát giữa Áo-Hung và Bulgaria.

Vào cuối năm 1915, một lực lượng liên quân Anh-Pháp đã đổ bộ lên Salonica thuộc Hy Lạp để hỗ trợ và gây sức ép buộc chính phủ nước này tuyên chiến với phe Liên minh Trung tâm. Tuy nhiên, vị vua thân Đức Constantine I đã cách chức chính phủ thân Hiệp ước của Thủ tướng Eleftherios Venizelos ngay trước khi lực lượng viễn chinh của phe Hiệp ước đặt chân đến.

Mặt trận Macedonia ban đầu phần lớn ở trong trạng thái tĩnh. Các lực lượng Pháp và Serbia đã giành lại một số khu vực hạn chế ở Macedonia khi tái chiếm Bitola vào ngày 19 tháng 11 năm 1916 sau Chiến dịch tấn công Monastir tốn nhiều xương máu, giúp ổn định lại cục diện mặt trận.

Quân đội Áo-Hung xử tử những người Serbia bị bắt, năm 1917. Serbia mất khoảng 850.000 người trong chiến tranh, chiếm một phần tư dân số trước chiến tranh của nước này.

Quân đội Serbia và Pháp cuối cùng đã tạo ra bước đột phá vào tháng 9 năm 1918 trong Chiến dịch tấn công Vardar, sau khi phần lớn quân đội Đức và Áo-Hung đã rút đi. Quân Bulgaria bị đánh bại tại Trận Dobro Pole, và đến ngày 25 tháng 9, các lực lượng Anh và Pháp đã vượt biên giới tiến vào lãnh thổ Bulgaria khi quân đội nước này tan rã hoàn toàn. Bulgaria đầu hàng bốn ngày sau đó, vào ngày 29 tháng 9 năm 1918. Bộ chỉ huy tối cao Đức phản ứng bằng cách điều động các đơn vị đến giữ phòng tuyến, nhưng lực lượng này quá mỏng để có thể tái lập mặt trận.

Đột phá của phe Hiệp ước trên mặt trận Macedonia đã cắt đứt tuyến liên lạc giữa Đế quốc Ottoman với các nước khác trong Liên minh Trung tâm, đồng thời khiến Viên dễ bị tấn công. Hindenburg và Ludendorff kết luận rằng cán cân chiến lược và tác chiến lúc này đã hoàn toàn nghiêng về phía bất lợi cho phe Liên minh Trung tâm và, một ngày sau sự sụp đổ của Bulgaria, đã kiên quyết yêu cầu một giải pháp hòa bình ngay lập tức.

Đế quốc Ottoman

Binh lính Úc xung phong gần một chiến hào của Thổ Nhĩ Kỳ trong Chiến dịch Gallipoli

Người Ottoman đe dọa các vùng lãnh thổ của Nga ở Caucasus và tuyến đường liên lạc của Anh với Ấn Độ qua Kênh đào Suez. Đế quốc Ottoman đã lợi dụng việc các cường quốc châu Âu đang bận tâm với cuộc chiến để tiến hành các cuộc thanh trừng sắc tộc quy mô lớn đối với các nhóm dân cư Cơ đốc giáo gồm người Armenia, người Hy Lạp và người Assyria, tương ứng với các sự kiện Diệt chủng người Armenia, Diệt chủng người Hy Lạp và Diệt chủng người Assyria.

Anh và Pháp đã mở các mặt trận ở nước ngoài với chiến dịch Gallipoli (1915) và Chiến dịch Lưỡng Hà (1914). Tại Gallipoli, Đế quốc Ottoman đã đẩy lùi thành công liên quân Anh, Pháp và Quân đoàn ANZAC. Ngược lại, tại Lưỡng Hà, sau thất bại của lực lượng phòng thủ Anh trong cuộc vây hãm Kut trước quân Ottoman (1915–1916), các lực lượng Đế quốc Anh đã tái tổ chức và chiếm lại Baghdad vào tháng 3 năm 1917. Quân Anh tại Lưỡng Hà được hỗ trợ bởi các tay súng Ả Rập và Assyria bản địa, trong khi quân Ottoman sử dụng các bộ tộc người Kurd và Turcoman tại chỗ.

Kênh đào Suez đã được phòng thủ thành công trước các cuộc tấn công của Ottoman vào năm 1915 và 1916; vào tháng 8 năm 1916, một lực lượng liên quân Đức và Ottoman đã bị đánh bại tại Trận Romani bởi Sư đoàn Kỵ binh ANZAC và Sư đoàn Bộ binh số 52 (Lowland). Tiếp sau thắng lợi này, Lực lượng Viễn chinh Ai Cập đã tiến quân qua Bán đảo Sinai, đẩy lùi các lực lượng Ottoman trong Trận Magdhaba vào tháng 12 và Trận Rafa trên biên giới giữa bán đảo Sinai thuộc Ai Cập và vùng Palestine thuộc Ottoman vào tháng 1 năm 1917.

Chiến hào rừng của Nga trong Trận Sarikamish, 1914–1915

Các tập đoàn quân Nga nhìn chung gặt hái được nhiều thắng lợi trong Chiến dịch Kavkaz. Enver Pasha, tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Ottoman, nuôi mộng tái chiếm Trung Á và các khu vực từng rơi vào tay Nga trước đây. Tuy nhiên, ông là một nhà chỉ huy yếu kém. Ông phát động một cuộc tấn công nhằm vào quân Nga ở vùng Caucasus vào tháng 12 năm 1914 với 100.000 quân, khăng khăng chọn cách tấn công vỗ mặt vào các vị trí phòng thủ trên núi của Nga giữa mùa đông khắc nghiệt. Ông đã để tổn thất 86% binh lực của mình tại Trận Sarikamish. Tướng Nikolai Yudenich, chỉ huy quân đội Nga từ năm 1915 đến 1916, đã đánh bật người Thổ khỏi phần lớn khu vực nam Kavkaz.

Hoàng đế Wilhelm II và Vương tử Leopold của Bayern duyệt đội danh dự lính Thổ Nhĩ Kỳ thuộc Quân đoàn 15 tại Đông Galicia, Áo-Hung (nay thuộc Ba Lan)

Đế quốc Ottoman, với sự hỗ trợ của Đức, đã tiến quân vào Ba Tư (nay là Iran) vào tháng 12 năm 1914 nhằm cắt đứt khả năng tiếp cận của Anh và Nga đối với các vỉa chứa dầu khí quanh Baku. Ba Tư, dù bề ngoài giữ thế trung lập, từ lâu đã nằm dưới tầm ảnh hưởng của Anh và Nga. Người Ottoman và Đức nhận được sự trợ giúp từ các lực lượng người Kurd và người Azeri, cùng một số lượng lớn các bộ tộc lớn của Iran, trong khi người Nga và Anh được hỗ trợ bởi các tình nguyện viên Armenia và lực lượng người Assyria. Chiến dịch Ba Tư kéo dài đến năm 1918 và kết thúc trong thất bại của người Ottoman cùng các đồng minh. Tuy nhiên, việc Nga rút khỏi cuộc chiến vào năm 1917 đã khiến các lực lượng Armenia và Assyria bị cắt đứt đường tiếp tế, thua kém về quân số và hỏa lực, bị cô lập hoàn toàn, buộc họ phải vừa giao chiến vừa rút chạy về phía phòng tuyến của quân Anh ở miền bắc Lưỡng Hà.

Cuộc nổi dậy Ả Rập, do Bộ Ngoại giao Anh khích lệ, bắt đầu vào tháng 6 năm 1916 với Trận Mecca, dưới sự lãnh đạo của Sharif Hussein. Vị Sharif này đã tuyên bố nền độc lập của Vương quốc Hejaz và, với sự trợ giúp của Anh, đã chinh phục phần lớn bán đảo Ả Rập do Ottoman chiếm giữ, cuối cùng dẫn tới việc quân Ottoman phải đầu hàng tại Damascus. Fakhri Pasha, chỉ huy quân Ottoman tại Medina, đã kháng cự trong hơn 2+1⁄2 năm trong suốt Cuộc vây hãm Medina trước khi đầu hàng vào tháng 1 năm 1919.

Dòng tộc bộ lạc Senussi, dọc theo biên giới giữa Libya thuộc Ý và Ai Cập thuộc Anh, dưới sự xúi giục và trang bị vũ khí của người Thổ, đã tiến hành một cuộc chiến tranh du kích quy mô nhỏ chống lại quân đội phe Hiệp ước. Phía Anh buộc phải điều động 12.000 quân để đối phó với họ trong Chiến dịch Senussi. Cuộc nổi dậy của họ cuối cùng đã bị dập tắt vào giữa năm 1916.

Tổng thương vong của phe Hiệp ước trên các mặt trận chống Ottoman lên tới 650.000 người. Tổng thương vong của phía Ottoman là 725.000 người, trong đó có 325.000 người chết và 400.000 người bị thương.

Mặt trận Ý

Các chiến dịch tấn công bên sông Isonzo, 1915–1917

Mặc dù Ý đã gia nhập Liên minh Ba nước vào năm 1882, một hiệp ước ký kết với đối thủ truyền kiếp của họ là Áo lại gây tranh cãi gay gắt đến mức các chính phủ kế tiếp đều phủ nhận sự tồn tại của nó, và các điều khoản chỉ được công bố công khai vào năm 1915. Sự chia rẽ này bắt nguồn từ mưu đồ của chủ nghĩa dân tộc Ý đối với các lãnh thổ của Áo-Hung tại Trentino, vùng bờ biển Áo, Rijeka và Dalmatia, những nơi được xem là thiết yếu để bảo đảm biên giới được xác lập trong cuộc Chiến tranh giành độc lập lần thứ ba năm 1866. Năm 1902, Roma đã bí mật thỏa thuận với Pháp về việc giữ thế trung lập nếu Pháp bị Đức tấn công, khiến vai trò của Ý trong Liên minh Tam cường trên thực tế bị vô hiệu hóa.

Khi chiến tranh bùng nổ vào năm 1914, Ý lập luận rằng họ không có nghĩa vụ phải ủng hộ cuộc tấn công của Áo nhằm vào Serbia, bởi Liên minh Tam cường mang bản chất phòng thủ. Sự phản đối việc đứng về phe Liên minh Trung tâm càng gia tăng khi Thổ Nhĩ Kỳ trở thành thành viên của khối vào tháng 9, do trong năm 1911 Ý đã chiếm đóng các thuộc địa của Ottoman tại Libya và quần đảo Dodecanese. Nhằm đảm bảo nền trung lập của Ý, phe Liên minh Trung tâm đề nghị trao cho họ Tunisia, trong khi để đổi lấy việc Ý tham chiến ngay lập tức, phe Hiệp ước đã chấp thuận các yêu sách của Ý về lãnh thổ của Áo và chủ quyền đối với quần đảo Dodecanese. Mặc dù được giữ bí mật, các điều khoản này đã được đưa vào Hiệp ước Luân Đôn (1915) vào tháng 4 năm 1915, và Ý chính thức gia nhập phe Hiệp ước. Ngày 23 tháng 5, Ý tuyên chiến với Áo-Hung, và tuyên chiến với Đức mười lăm tháng sau đó.

Chiến hào của Áo-Hung ở độ cao 3.850 mét trên Dãy núi Ortler, một trong những mặt trận khắc nghiệt nhất của cuộc chiến

Quân đội Ý trước năm 1914 rơi vào tình trạng thiếu hụt sĩ quan, binh lính được huấn luyện, phương tiện vận tải phù hợp và vũ khí hiện đại; đến tháng 4 năm 1915, một số thiếu sót này đã được khắc phục nhưng quân đội vẫn chưa sẵn sàng cho cuộc tấn công quy mô lớn theo yêu cầu của Hiệp ước Luân Đôn. Lợi thế về quân số vượt trội bị triệt tiêu bởi địa hình hiểm trở; phần lớn các cuộc giao tranh diễn ra trên các đỉnh núi cao thuộc Alps và Dolomites, nơi các chiến hào phải đào khoét xuyên qua đá và băng tuyết, đồng thời việc bảo đảm tiếp tế cho binh lính là một thách thức to lớn. Những vấn đề này càng trở nên trầm trọng hơn bởi các chiến lược và chiến thuật thiếu sáng tạo. Giữa năm 1915 và 1917, tướng chỉ huy quân đội Ý, Luigi Cadorna, đã phát động loạt đợt tấn công vỗ mặt dọc theo sông Isonzo, nhưng chỉ đạt được rất ít tiến triển và phải trả giá bằng vô số sinh mạng; đến cuối chiến tranh, số binh sĩ Ý tử trận lên tới khoảng 548.000 người.

Vào mùa xuân năm 1916, quân đội Áo-Hung phản công tại Asiago trong chiến dịch Strafexpedition, nhưng đạt được rất ít bước tiến và bị quân Ý đẩy lùi về Tyrol. Mặc dù Ý đã chiếm đóng miền nam Albania vào tháng 5 năm 1916, trọng tâm chính của họ vẫn là mặt trận Isonzo, nơi mà sau khi chiếm được Gorizia vào tháng 8 năm 1916, tình hình vẫn rơi vào bế tắc cho đến tháng 10 năm 1917. Sau khi liên quân Áo-Đức giành chiến thắng vang dội tại Trận Caporetto, Cadorna bị thay thế bởi Armando Diaz, người đã chủ động rút lui hơn 100 kilômét (62 mi) trước khi lập phòng tuyến phòng thủ dọc theo sông Piave. Đợt tấn công thứ hai của quân Áo bị bẻ gãy vào tháng 6 năm 1918. Ngày 24 tháng 10, Diaz phát động Trận Vittorio Veneto và ban đầu vấp phải sự kháng cự ngoan cường, nhưng khi Đế quốc Áo-Hung trên bờ vực tan rã, các sư đoàn Hungary tại Ý đã yêu cầu được hồi hương. Khi yêu cầu này được chấp thuận, nhiều đơn vị khác cũng làm theo khiến quân đội Đế chế tan vỡ hoàn toàn, và quân Ý đã bắt giữ hơn 300.000 tù binh. Ngày 3 tháng 11, Hiệp định đình chiến Villa Giusti chấm dứt chiến sự giữa Áo-Hung và Ý; phía Ý sau đó đã chiếm đóng Trieste và các vùng lãnh thổ dọc theo Biển Adriatic được trao cho họ theo thỏa thuận năm 1915.

Mặt trận phía Đông

Các hoạt động ban đầu

Sa hoàng Nikolai II và Đại công tước Nikolaevich sau khi quân Nga chiếm được Przemyśl, cuộc vây hãm dài nhất của cuộc chiến

Theo thỏa thuận trước đó với Tổng thống Pháp Raymond Poincaré, kế hoạch tác chiến của Nga khi chiến tranh nổ ra là đồng thời tiến công vào vùng Galicia thuộc Áo và Đông Phổ càng sớm càng tốt. Mặc dù cuộc tấn công vào Galicia phần lớn gặt hái thành công và các chiến dịch xâm nhập này đạt được mục tiêu buộc Đức phải chuyển bớt quân từ Mặt trận phía Tây sang, tốc độ tổng động viên quá gấp gáp đồng nghĩa với việc họ phải xuất quân mà thiếu đi phần lớn khí tài hạng nặng và các bộ phận hỗ trợ hậu cần. Những điểm yếu này đã góp phần dẫn tới các thất bại của Nga tại Tannenberg và Trận hồ Masurian lần thứ nhất vào tháng 8 và tháng 9 năm 1914, buộc họ phải rút lui khỏi Đông Phổ với tổn thất nặng nề. Đến mùa xuân năm 1915, quân Nga cũng phải rút khỏi Galicia, và Chiến dịch tấn công Gorlice–Tarnów vào tháng 5 năm 1915 đã mở đường cho phe Liên minh Trung tâm tràn vào chiếm đóng vùng Ba Lan thuộc Nga.

Bất chấp thắng lợi của Chiến dịch Brusilov vào tháng 6 năm 1916 nhằm vào quân Áo ở đông Galicia, tình trạng thiếu hụt tiếp tế, thương vong nặng nề và những sai lầm trong chỉ huy đã ngăn cản quân Nga khai thác triệt để thắng lợi của mình. Tuy vậy, đây vẫn là một trong những chiến dịch tấn công quan trọng nhất của cuộc chiến, khi phân tán các nguồn lực của Đức khỏi Verdun, giải tỏa áp lực của Áo-Hung đối với quân Ý, và thuyết phục Romania gia nhập cuộc chiến theo phe Hiệp ước vào ngày 27 tháng 8. Nó cũng làm suy yếu chí tử cả hai quân đội Áo và Nga, những bên mà năng lực tác chiến tấn công bị tổn hại nghiêm trọng sau các tổn thất, đồng thời làm gia tăng sự vỡ mộng đối với chiến tranh—yếu tố cuối cùng đã dẫn tới các cuộc cách mạng tại Nga.

Trong khi đó, tình trạng bất ổn ngày càng lan rộng tại Nga khi Sa hoàng Nikolai II đích thân ra mặt trận chỉ huy, để hậu phương lại cho Hoàng hậu Alexandra điều hành. Sự cai trị ngày càng yếu kém của bà cùng tình trạng thiếu thốn lương thực tại các khu vực đô thị đã dẫn đến các cuộc biểu tình lan rộng và vụ sát hại sủng thần của bà là Grigori Rasputin vào cuối năm 1916.

Sự tham gia của Romania

Chiến tranh thế giới thứ nhất trên bản đồ România
Bucharest
Bucharest
Timișoara (Banat)
Timișoara (Banat)
Cluj (Transylvania)
Cluj (Transylvania)
Chișinău (Moldova)
Chișinău (Moldova)
Constanța (Dobruja)
Constanța (Dobruja)
Bulgaria
Bulgaria
Hungary
Hungary
Mărășești
Mărășești
Oituz
Oituz
Chiến tranh thế giới thứ nhất (România)

Mặc dù từng bí mật đồng ý ủng hộ Liên minh Ba nước vào năm 1883, Romania ngày càng nhận thấy bản thân bất đồng sâu sắc với phe Liên minh Trung tâm do khối này ủng hộ Bulgaria trong các cuộc Chiến tranh Balkan và mâu thuẫn về vị thế của cộng đồng người gốc Romania tại Transylvania do Hungary kiểm soát, nơi người Romania chiếm ước tính 2,8 triệu trên tổng số 5,0 triệu dân của khu vực. Do giới tinh hoa cầm quyền bị chia rẽ thành hai phe thân Đức và thân Hiệp ước, Romania đã giữ thế trung lập trong hai năm đầu, song vẫn cho phép Đức và Áo vận chuyển hàng tiếp tế quân sự và các cố vấn qua lãnh thổ của mình.

Vào tháng 9 năm 1914, Nga công nhận quyền lợi của Romania đối với các vùng lãnh thổ của Áo-Hung bao gồm Transylvania và Banat, những yêu sách nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ dân chúng, và thắng lợi của Nga trước quân Áo đã thúc đẩy Romania gia nhập phe Hiệp ước thông qua Hiệp ước Bucharest (1916) ký vào tháng 8 năm 1916. Theo kế hoạch chiến lược mang tên Giả thuyết Z, quân đội Romania trù định mở cuộc tấn công vào Transylvania, đồng thời phòng thủ miền Nam Dobruja và Giurgiu trước nguy cơ phản công của Bulgaria. Ngày 27 tháng 8 năm 1916, họ tấn công Transylvania và kiểm soát phần lớn tỉnh này trước khi bị Tập đoàn quân số 9 của Đức mới thành lập dưới quyền cựu Tổng tham mưu trưởng Erich von Falkenhayn đánh bật trở lại. Đợt tiến công phối hợp của liên quân Đức–Bulgaria–Thổ Nhĩ Kỳ đã đánh chiếm Dobruja và Giurgiu, dù phần lớn quân đội Romania đã thoát khỏi vòng vây và rút về cố thủ Bucharest, thành phố sau đó đã đầu hàng phe Liên minh Trung tâm vào ngày 6 tháng 12 năm 1916.

Vào mùa hè năm 1917, phe Liên minh Trung tâm dưới sự chỉ huy của August von Mackensen phát động một cuộc tấn công lớn nhằm loại bỏ Romania khỏi cuộc chiến, dẫn tới các trận đánh ác liệt tại Oituz, Mărăști và Mărășești, nơi có tới 1.000.000 quân của Liên minh Trung tâm tham chiến. Các trận đánh kéo dài từ ngày 22 tháng 7 đến ngày 3 tháng 9 và cuối cùng quân đội Romania đã giành chiến thắng, tiến thêm 500 km2. August von Mackensen không thể lên kế hoạch cho một đợt tấn công mới do phải điều chuyển bớt quân sang Mặt trận Ý. Sau cuộc Cách mạng Nga, Romania rơi vào thế đơn độc trên Mặt trận phía Đông và buộc phải ký kết Hiệp ước Bucharest (1918) với phe Liên minh Trung tâm; hiệp ước này công nhận chủ quyền của Romania đối với Bessarabia để đổi lấy việc nhượng quyền kiểm soát các đèo chiến lược trên dãy núi Karpat cho Áo-Hung và cho Đức thuê các giếng dầu. Mặc dù được Nghị viện thông qua, Vua Ferdinand I đã từ chối ký ban hành, nuôi hy vọng vào một chiến thắng của phe Hiệp ước ở phía tây. Romania tái tham chiến vào ngày 10 tháng 11 năm 1918 theo phe Hiệp ước, và Hiệp ước Bucharest chính thức bị vô hiệu hóa bởi Hiệp định Đình chiến ngày 11 tháng 11 năm 1918.

Đề xuất hòa bình của phe Liên minh Trung tâm

Vào ngày 12 tháng 12 năm 1916, sau mười tháng ác liệt của Trận Verdun và một chiến dịch tấn công thành công nhằm vào Romania, Đức đã nỗ lực đàm phán hòa bình với phe Hiệp ước. Tuy nhiên, nỗ lực này đã bị bác bỏ thẳng thừng như một "mưu mẹo chiến tranh lừa dối".

"Chúng sẽ không thể vượt qua", câu khẩu hiệu thường gắn liền với cuộc phòng thủ Verdun

Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đã nỗ lực can thiệp với tư cách trung gian hòa giải, yêu cầu cả hai bên nêu rõ các yêu sách của mình. Nội các Chiến tranh của Lloyd George xem lời đề nghị của Đức là một đòn chia rẽ nội bộ phe Hiệp ước. Sau cơn phẫn nộ ban đầu và nhiều cuộc thảo luận, họ đón nhận công hàm của Wilson như một nỗ lực riêng biệt, báo hiệu rằng Hoa Kỳ đang đứng trước bờ vực tham chiến chống lại Đức sau những "hành vi tàn bạo của tàu ngầm". Trong khi phe Hiệp ước còn đang tranh luận về phản hồi đối với đề xuất của Wilson, phía Đức lại chọn cách từ chối để ủng hộ "một cuộc trao đổi quan điểm trực tiếp". Nắm được phản hồi của Đức, các chính phủ phe Hiệp ước tự do đưa ra những yêu sách rõ ràng trong công hàm trả lời ngày 14 tháng 1. Họ yêu cầu bồi thường thiệt hại, rút quân khỏi các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, bồi thường chiến phí cho Pháp, Nga và Romania, cùng sự công nhận đối với nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết. Phe Hiệp ước cũng tìm kiếm những bảo đảm nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế các cuộc chiến tranh trong tương lai. Các cuộc đàm phán đổ vỡ và các cường quốc Hiệp ước đã bác bỏ đề nghị của Đức vì lý do danh dự, đồng thời lưu ý rằng Đức không đưa ra bất kỳ đề xuất cụ thể nào.

Những năm cuối cùng của cuộc chiến

Cách mạng Nga và sự rút lui

Lãnh thổ Nga bị mất theo Hòa ước Brest-Litovsk năm 1918

Tính đến cuối năm 1916, tổng thương vong của Nga lên tới gần 5 triệu người thiệt mạng, bị thương hoặc bị bắt làm tù binh, trong khi các khu đô thị lớn bị ảnh hưởng nặng nề bởi tình trạng thiếu lương thực và giá cả leo thang. Vào tháng 3 năm 1917, Sa hoàng Nikolai đã hạ lệnh cho quân đội dùng vũ lực đàn áp các cuộc đình công ở Petrograd, nhưng binh lính đã từ chối nổ súng vào đám đông. Những người cách mạng đã thành lập Xô viết Petrograd, và trước nguy cơ phe cánh tả lên nắm quyền, Duma Quốc gia đã ép Nikolai phải thoái vị và thành lập Chính phủ Lâm thời Nga, cơ quan tái khẳng định sự sẵn sàng tiếp tục cuộc chiến của nước Nga. Tuy nhiên, Xô viết Petrograd từ chối giải tán, tạo nên các trung tâm quyền lực đối đầu, gây ra sự hỗn loạn và hoang mang tột độ, khiến tinh thần của binh lính ngoài mặt trận ngày càng sa sút.

Sau khi Sa hoàng thoái vị, Vladimir Lenin, dưới sự hỗ trợ của chính phủ Đức đã được đưa từ Thụy Sĩ trở về Nga vào ngày 16 tháng 4 năm 1917. Nỗi bất bình cùng những điểm yếu của Chính phủ Lâm thời đã dẫn đến sự gia tăng uy tín của Đảng Bolshevik do Lenin lãnh đạo, lực lượng luôn yêu cầu chấm dứt chiến tranh ngay lập tức. Sau cuộc Cách mạng Tháng Mười Một là một hiệp định đình chiến vào tháng 12 cùng các cuộc hòa đàm với Đức. Ban đầu, phe Bolshevik cự tuyệt các điều khoản của Đức, nhưng khi quân đội Đức bắt đầu tiến qua Ukraina mà không gặp phải sự kháng cự nào, họ đã chấp thuận Hòa ước Brest-Litovsk vào ngày 3 tháng 3 năm 1918. Hiệp ước này đã nhượng lại nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn, bao gồm Phần Lan, Estonia, Latvia, Litva cùng các phần lãnh thổ của Ba Lan và Ukraina cho phe Liên minh Trung tâm.

Khi Đế quốc Nga rời khỏi cuộc chiến, Romania rơi vào thế cô lập trên Mặt trận phía Đông và đã ký Hiệp ước Bucharest (1918) với phe Liên minh Trung tâm vào tháng 5 năm 1918. Theo các điều khoản của hiệp ước, Romania nhượng lãnh thổ cho Áo-Hung và Bulgaria, đồng thời cho Đức thuê lại các mỏ dầu dự trữ. Tuy nhiên, các điều khoản này cũng bao gồm việc phe Liên minh Trung tâm công nhận sự hợp nhất của Bessarabia vào Romania.

Hoa Kỳ tham chiến

Tổng thống Wilson kêu gọi Quốc hội tuyên chiến với Đức, ngày 2 tháng 4 năm 1917

Hoa Kỳ từng là nguồn cung cấp vật tư chiến tranh lớn cho phe Hiệp ước nhưng vẫn giữ thế trung lập vào năm 1914, phần lớn là do sự phản đối trong nước. Yếu tố quan trọng nhất tạo ra sự ủng hộ mà Wilson cần chính là chiến dịch tàu ngầm của Đức, vốn không chỉ cướp đi sinh mạng của công dân Mỹ mà còn làm tê liệt thương mại khi các tàu thuyền e ngại ra khơi.

Vào ngày 6 tháng 4 năm 1917, Quốc hội tuyên chiến với Đức với tư cách là một "Cường quốc liên kết" của phe Hiệp ước. Hải quân Hoa Kỳ đã cử một hải đội thiết giáp hạm tới Scapa Flow để sáp nhập vào Hạm đội Grand, đồng thời hỗ trợ hộ tống các đoàn tàu vận tải. Vào tháng 4 năm 1917, Lục quân Hoa Kỳ có biên chế dưới 300.000 quân, tính cả các đơn vị Vệ binh Quốc gia, so với quân đội Anh và Pháp có quân số lần lượt là 4,1 và 8,3 triệu người. Đạo luật Nghĩa vụ Tuyển chọn năm 1917 đã động viên 2,8 triệu binh sĩ, dù việc huấn luyện và trang bị cho quân số đông đảo như vậy là một thách thức hậu cần khổng lồ. Đến tháng 6 năm 1918, hơn 667.000 quân nhân thuộc Lực lượng Viễn chinh Hoa Kỳ (AEF) đã được vận chuyển sang Pháp, con số này đạt mốc 2 triệu người vào cuối tháng 11.

Bất chấp niềm tin rằng Đức phải bị đánh bại, Wilson tham chiến nhằm đảm bảo Hoa Kỳ đóng vai trò hàng đầu trong việc định hình nền hòa bình, điều đồng nghĩa với việc duy trì AEF như một lực lượng quân sự độc lập, thay vì bị sáp nhập vào các đơn vị Anh hoặc Pháp như các đồng minh mong muốn. Ông nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ chỉ huy AEF, Đại tướng John J. Pershing, một người chủ trương lối đánh "tác chiến vận động mở" thời kỳ trước năm 1914 và cho rằng việc Pháp và Anh quá coi trọng pháo binh là sai lầm và không phù hợp với "tinh thần tấn công" của lính Mỹ. Bất chấp sự thất vọng của các đồng minh vốn đã chịu tổn thất nặng nề trong năm 1917, Pershing kiên quyết duy trì quyền kiểm soát quân đội Mỹ và từ chối điều họ lên tiền tuyến cho đến khi họ có thể tác chiến như những đơn vị độc lập. Do đó, sự can thiệp đáng kể đầu tiên của Hoa Kỳ là trong Chiến dịch Meuse-Argonne vào cuối tháng 9 năm 1918.

Chiến dịch Nivelle (tháng 4–tháng 5 năm 1917)

Từng hàng lính đeo súng trường tiến sát sau xe tăng, phía trước có một thi thể
Binh lính thuộc Quân đoàn Canada tại Trận đỉnh Vimy, năm 1917

Vào tháng 12 năm 1916, Robert Nivelle thay thế Pétain làm tư lệnh các tập đoàn quân Pháp trên Mặt trận phía Tây và bắt đầu lên kế hoạch cho đợt tấn công mùa xuân tại Champagne, một phần của chiến dịch phối hợp Pháp–Anh. Công tác an ninh yếu kém khiến tình báo Đức nắm rất rõ chiến thuật và thời gian biểu tác chiến, nhưng bất chấp điều đó, khi cuộc tấn công bắt đầu vào ngày 16 tháng 4, quân Pháp đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể trước khi bị chặn đứng bởi hệ thống phòng thủ mới xây dựng cực kỳ kiên cố của Phòng tuyến Hindenburg. Nivelle tiếp tục thúc đẩy các cuộc tấn công vỗ mặt và tính đến ngày 25 tháng 4, quân Pháp đã chịu gần 135.000 thương vong, bao gồm 30.000 người tử trận, phần lớn xảy ra trong hai ngày đầu tiên.

Các đợt tấn công đồng thời của Anh tại Arras thành công hơn, dù xét cho cùng mang lại ít giá trị chiến lược. Tác chiến như một đơn vị độc lập lần đầu tiên, việc Quân đoàn Canada đánh chiếm đỉnh Vimy được nhiều người Canada coi là thời khắc định hình ý thức bản sắc dân tộc của họ. Mặc dù Nivelle vẫn tiếp tục chiến dịch, vào ngày 3 tháng 5, Sư đoàn 21, đơn vị từng tham gia những trận đánh ác liệt nhất tại Verdun, đã từ chối mệnh lệnh xuất kích, châm ngòi cho các cuộc nổi loạn trong Quân đội Pháp; chỉ trong vài ngày, "tình trạng vô kỷ luật tập thể" đã lan ra 54 sư đoàn, trong khi hơn 20.000 binh lính đã đào ngũ.

Chiến dịch Sinai và Palestine (1917–1918)

Khẩu đội pháo binh Anh trên Núi Scopus trong Trận Jerusalem, năm 1917.

Vào tháng 3 và tháng 4 năm 1917, tại Trận Gaza lần thứ nhất và lần thứ hai, các lực lượng Đức và Ottoman đã chặn đứng bước tiến của Lực lượng Viễn chinh Ai Cập vốn bắt đầu từ tháng 8 năm 1916 tại Trận Romani. Cuối tháng 10 năm 1917, Chiến dịch Sinai và Palestine tái khởi động khi Quân đoàn XX, Quân đoàn XXI và Quân đoàn Kỵ binh Sa mạc của Tướng Edmund Allenby giành chiến thắng trong Trận Beersheba. Hai tập đoàn quân Ottoman bị đánh bại vài tuần sau đó tại Trận đỉnh Mughar và đến đầu tháng 12, Jerusalem đã bị đánh chiếm sau một thất bại khác của quân Ottoman trong Trận Jerusalem.

Vào khoảng thời gian này, Friedrich Freiherr Kress von Kressenstein bị miễn nhiệm chức tư lệnh Tập đoàn quân số 8, người thay thế là Djevad Pasha, và vài tháng sau, tư lệnh Quân đội Ottoman tại Palestine là Erich von Falkenhayn đã bị thay thế bởi Otto Liman von Sanders.

Vào đầu năm 1918, chiến tuyến đã được mở rộng và Thung lũng Jordan bị chiếm đóng sau các đợt tấn công lần thứ nhất và lần thứ hai qua sông Jordan của các lực lượng Đế quốc Anh vào tháng 3 và tháng 4 năm 1918.

Cuộc tấn công của Đức và đòn phản công của phe Hiệp ước (tháng 3–tháng 11 năm 1918)

Từ tháng 4 đến tháng 11 năm 1918, phe Hiệp ước gia tăng quân số bộ binh nơi tiền tuyến trong khi lực lượng của Đức giảm đi một nửa.

Vào tháng 12 năm 1917, phe Liên minh Trung tâm đã ký hiệp định đình chiến với Nga, nhờ đó giải phóng một lượng lớn binh lính Đức để điều chuyển sang phía Tây. Với các lực lượng tăng viện của Đức cùng nguồn lính Mỹ mới đổ dồn vào, kết cục cuộc chiến sẽ được định đoạt tại Mặt trận phía Tây. Phe Liên minh Trung tâm biết rằng họ không thể giành chiến thắng trong một cuộc chiến tranh kéo dài, nhưng họ đặt kỳ vọng lớn vào sự thành công của một chiến dịch tấn công chớp nhoáng cuối cùng. Ludendorff vạch ra các kế hoạch (Chiến dịch Michael) cho đợt tấn công năm 1918 trên Mặt trận phía Tây. Chiến dịch bắt đầu vào ngày 21 tháng 3 năm 1918 bằng một đòn đánh vào các lực lượng Anh gần Saint-Quentin. Quân đội Đức đạt được bước tiến chưa từng thấy với chiều sâu 60 kilômét (37 mi). Đợt tấn công ban đầu đã thắng lợi; tuy nhiên, sau những trận chiến ác liệt, đà tiến đã bị chặn đứng. Do thiếu xe tăng hoặc pháo cơ giới hóa, quân Đức không thể củng cố các vùng đất vừa chiếm được. Vấn đề tiếp tế cũng trở nên trầm trọng hơn do khoảng cách ngày càng kéo dài qua những vùng địa hình bị đạn pháo cày xới nát bét và thường không thể lưu thông xe cộ. Đức phát động Chiến dịch Georgette nhằm vào các cảng phía bắc Eo biển Manche. Phe Hiệp ước đã chặn đứng mũi tiến công này sau khi Đức chỉ giành được những bước tiến lãnh thổ hạn chế. Quân đội Đức ở phía nam sau đó tiến hành Chiến dịch Blücher và Yorck, tiến rộng về phía Paris. Đức tiếp tục tung ra Chiến dịch Marne (Trận Marne lần thứ hai) vào ngày 15 tháng 7 nhằm bao vây Reims. Cuộc phản công sau đó, mở màn cho cuộc Tổng tấn công Một trăm ngày vào ngày 8 tháng 8, đã dẫn đến sự suy sụp rõ rệt về tinh thần của quân đội Đức.

Phái bộ Caucasus của Đức (tháng 6 năm 1918) và các xung đột Đức–Ottoman

Vào tháng 6 năm 1918, Đức đã phát động Phái bộ Caucasus của Đức nhằm bảo vệ nhà nước Cộng hòa Dân chủ Gruzia mới độc lập và thân Đức trước các bước tiến của Ottoman, đồng thời bảo đảm nguồn cung cấp dầu cho Đức bằng cách ngăn chặn Đế quốc Ottoman tiếp cận các mỏ dầu gần Baku trên Bán đảo Absheron.

Các lực lượng Ottoman tiến công ở Caucasus đã đụng độ với quân Đức đang hoạt động tại Gruzia, châm ngòi cho một cuộc xung đột công khai.

Cuộc tiến công của phe Hiệp ước đến Phòng tuyến Hindenburg

Binh lính Mỹ bắn vào các vị trí chiến hào của Đức trong Chiến dịch Meuse-Argonne, năm 1918

Đến tháng 9, quân Đức đã phải lùi về Phòng tuyến Hindenburg. Phe Hiệp ước đã tiến đến Phòng tuyến Hindenburg ở khu vực phía bắc và trung tâm. Các lực lượng Đức tung ra nhiều đợt phản công, nhưng các cứ điểm và tiền đồn của phòng tuyến này tiếp tục thất thủ; riêng lực lượng BEF đã bắt giữ 30.441 tù binh trong tuần cuối cùng của tháng 9. Ngày 24 tháng 9, Bộ Tổng tư lệnh quân đội đã thông báo cho giới lãnh đạo ở Berlin rằng các cuộc hòa đàm đình chiến là không thể tránh khỏi.

Đợt công kích cuối cùng vào Phòng tuyến Hindenburg bắt đầu với Chiến dịch Meuse-Argonne, do liên quân Mỹ–Pháp phát động vào ngày 26 tháng 9. Hai ngày sau, quân đội Bỉ, Pháp và Anh tấn công quanh vùng Ypres, và ngày tiếp theo quân Anh tấn công vào St Quentin ở trung tâm phòng tuyến. Tuần tiếp theo, các đơn vị phối hợp Mỹ–Pháp đã chọc thủng phòng tuyến tại Champagne trong Trận Blanc Mont Ridge (3–27 tháng 10), đánh bật quân Đức khỏi các cao điểm chỉ huy và áp sát biên giới Bỉ. Ngày 8 tháng 10, Phòng tuyến Hindenburg đã bị xuyên thủng bởi các lực lượng Anh và quân các xứ tự trị thuộc Tập đoàn quân số 1 và số 3 của Anh trong Trận Cambrai lần thứ hai.

Đột phá tại Mặt trận Macedonia (tháng 9 năm 1918)

Thiếu tá Bulgaria Ivanov cầm cờ trắng đầu hàng Trung đoàn Danube số 7 của Serbia gần Kumanovo

Các lực lượng phe Hiệp ước bắt đầu cuộc tấn công Vardar vào ngày 15 tháng 9 tại hai điểm then chốt: Dobro Pole và khu vực gần Hồ Dojran. Trong Trận Dobro Pole, các tập đoàn quân Pháp, Serbia và Hy Lạp đã gặt hái thành công sau trận đánh kéo dài ba ngày với thương vong tương đối nhỏ, và sau đó đã tạo nên bước đột phá xuyên thủng mặt trận, điều hiếm thấy trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Sau khi mặt trận bị phá vỡ, các lực lượng Hiệp ước bắt đầu giải phóng Serbia và tiến tới Skopje vào ngày 29 tháng 9, sau đó Bulgaria đã ký một hiệp định đình chiến với phe Hiệp ước vào ngày 30 tháng 9.

Các hiệp định đình chiến và đầu hàng

Quân đội Ý tiến vào Trento trong Trận Vittorio Veneto, năm 1918

Sự sụp đổ của phe Liên minh Trung tâm diễn ra nhanh chóng. Bulgaria là quốc gia đầu tiên ký hiệp định đình chiến, Hiệp định đình chiến Salonica vào ngày 29 tháng 9 năm 1918. Wilhelm II, trong một bức điện gửi Sa hoàng Ferdinand I của Bulgaria, đã mô tả tình thế lúc đó: "Thật nhục nhã! 62.000 lính Serbia đã định đoạt cục diện cuộc chiến!". Cùng ngày hôm đó, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Đế quốc Đức đã thông báo cho Wilhelm II và Thủ tướng Đế quốc Bá tước Georg von Hertling rằng tình hình quân sự mà nước Đức đang đối mặt là hoàn toàn vô vọng.

Vào ngày 24 tháng 10, quân Ý bắt đầu một đợt tiến công nhanh chóng thu hồi các vùng đất đã mất sau Trận Caporetto. Đợt tấn công lên đến đỉnh điểm trong Trận Vittorio Veneto, đánh dấu dấu chấm hết cho Quân đội Áo-Hung với tư cách là một lực lượng tác chiến hiệu quả. Chiến dịch này cũng châm ngòi cho sự tan rã của Đế quốc Áo-Hung. Trong tuần cuối cùng của tháng 10, các tuyên bố độc lập lần lượt được đưa ra tại Budapest, Praha và Zagreb. Ngày 29 tháng 10, chính quyền đế quốc đã đề nghị Ý ký hiệp định đình chiến, nhưng quân Ý tiếp tục tiến công, chiếm được Trento, Udine và Trieste. Ngày 3 tháng 11, Áo-Hung cử đại diện mang cờ đình chiến và chấp thuận Hiệp định đình chiến Villa Giusti, được dàn xếp với các giới chức phe Hiệp ước tại Paris. Áo và Hungary ký các hiệp định đình chiến riêng biệt sau sự sụp đổ của Chế độ quân chủ Habsburg. Trong những ngày tiếp theo, Quân đội Ý với hơn 20.000 binh sĩ đã chiếm đóng Innsbruck và toàn bộ Tyrol. Ngày 30 tháng 10, Đế quốc Ottoman đầu hàng và ký Hiệp định đình chiến Mudros.

Chính phủ Đức đầu hàng

Ferdinand Foch (thứ hai từ phải sang) chụp ảnh bên ngoài toa xe tại Compiègne sau khi đồng thuận về hiệp định đình chiến chấm dứt cuộc chiến tại đây.

Trước sự suy yếu nghiêm trọng của quân đội và sự mất lòng tin sâu sắc trên diện rộng đối với Wilhelm II, nước Đức tiến dần đến việc đầu hàng. Thân vương Maximilian xứ Baden nhậm chức Thủ tướng Đức vào ngày 3 tháng 10. Các cuộc đàm phán với Tổng thống Wilson bắt đầu ngay lập tức, với hy vọng rằng ông sẽ đưa ra các điều khoản khoan hồng hơn so với Anh và Pháp. Wilson yêu cầu thiết lập chế độ quân chủ lập hiến và quyền kiểm soát của nghị viện đối với quân đội Đức.

Cuộc Cách mạng Đức (1918–1919) bùng nổ vào cuối tháng 10 năm 1918. Các đơn vị thuộc Hải quân Đức từ chối ra khơi thực hiện một chiến dịch quy mô lớn trong một cuộc chiến mà họ tin rằng đã hoàn toàn thất bại. Cuộc nổi dậy của các thủy thủ, bùng phát sau đó tại các quân cảng Wilhelmshaven và Kiel, đã lan rộng ra khắp đất nước chỉ trong vài ngày và dẫn đến việc tuyên bố thành lập một nền cộng hòa vào ngày 9 tháng 11 năm 1918, ngay sau đó là sự kiện thoái vị của Wilhelm II, và sự đầu hàng của Đức.

Hậu quả

Sau hậu quả của cuộc chiến, các đế quốc Đức, Áo-Hung, Ottoman và Nga đều biến mất. Nhiều quốc gia đã giành lại nền độc lập trước đây của mình, và các quốc gia mới được thành lập. Bốn vương triều đã sụp đổ do hậu quả của cuộc chiến: nhà Romanov, nhà Hohenzollern, nhà Habsburg, và nhà Ottoman. Bỉ và Serbia bị tàn phá nặng nề, tương tự như Pháp, với 1,4 triệu binh sĩ tử trận, chưa kể các trường hợp thương vong khác. Đức và Nga cũng chịu ảnh hưởng tương tự.

Sự kết thúc chính thức của chiến tranh

Lễ ký kết Hòa ước Versailles tại Phòng Gương, Versailles, ngày 28 tháng 6 năm 1919, tranh của Sir William Orpen

Tình trạng chiến tranh chính thức giữa hai bên vẫn kéo dài thêm bảy tháng nữa, cho đến khi Hòa ước Versailles với Đức được ký kết vào ngày 28 tháng 6 năm 1919. Thượng viện Hoa Kỳ đã không phê chuẩn hiệp ước bất chấp sự ủng hộ của công chúng, và nước này không chính thức chấm dứt sự can dự của mình vào cuộc chiến cho đến khi Nghị quyết Knox–Porter được Tổng thống Warren G. Harding ký vào ngày 2 tháng 7 năm 1921. Đối với Đế quốc Anh, tình trạng chiến tranh chấm dứt theo các điều khoản của Đạo luật Chấm dứt Chiến tranh Hiện tại 1918 liên quan đến:

  • Đức vào ngày 10 tháng 1 năm 1920.
  • Áo vào ngày 16 tháng 7 năm 1920.
  • Bulgaria vào ngày 9 tháng 8 năm 1920.
  • Hungary vào ngày 26 tháng 7 năm 1921.
  • Thổ Nhĩ Kỳ vào ngày 6 tháng 8 năm 1924.
Thủ tướng Hy Lạp Eleftherios Venizelos ký Hiệp ước Sèvres

Một số đài tưởng niệm chiến tranh ghi ngày kết thúc cuộc chiến là thời điểm Hòa ước Versailles được ký kết vào năm 1919, tức lúc nhiều binh sĩ phục vụ ở nước ngoài cuối cùng cũng được trở về quê hương; ngược lại, hầu hết các lễ kỷ niệm kết thúc cuộc chiến đều tập trung vào ngày đình chiến 11 tháng 11 năm 1918.

Các hiệp ước hòa bình và ranh giới quốc gia

Bản đồ thay đổi lãnh thổ tại châu Âu sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (tính đến năm 1923)

Hội nghị Hòa bình Paris đã áp đặt một loạt các hiệp ước hòa bình lên phe Liên minh Trung tâm, chính thức chấm dứt chiến tranh. Hòa ước Versailles năm 1919 xử lý các vấn đề đối với Đức và, dựa trên Điểm thứ 14 của Wilson, đã thành lập Hội Quốc Liên vào ngày 28 tháng 6 năm 1919.

Phe Liên minh Trung tâm phải thừa nhận trách nhiệm đối với "mọi tổn thất và thiệt hại mà các Chính phủ Hiệp ước và Liên kết cùng các công dân của họ phải gánh chịu như một hệ quả của cuộc chiến tranh do" sự xâm lược của khối này áp đặt lên họ. Trong Hòa ước Versailles, tuyên bố này là Điều 231. Điều khoản này được gọi là "Điều khoản Tội lỗi Chiến tranh", khiến đại đa số người Đức cảm thấy bị sỉ nhục và phẫn uất. Người Đức cảm thấy họ đã bị đối xử bất công bởi cái mà họ gọi là "bản án độc đoán (diktat) Versailles". Nhà sử học Đức Hagen Schulze nhận định rằng Hiệp ước đã đặt nước Đức "dưới các lệnh trừng phạt pháp lý, bị tước bỏ sức mạnh quân sự, bị hủy hoại về kinh tế, và bị hạ nhục về chính trị." Nhà sử học người Bỉ Laurence Van Ypersele nhấn mạnh vai trò trọng tâm của ký ức về cuộc chiến và Hòa ước Versailles trên chính trường Đức trong những năm 1920 và 1930:

Việc tích cực phủ nhận tội lỗi chiến tranh ở Đức cùng sự phẫn nộ của người Đức đối với cả các khoản bồi thường chiến phí lẫn việc phe Hiệp ước tiếp tục chiếm đóng vùng Rheinland đã khiến cho việc nhìn nhận lại một cách rộng rãi về ý nghĩa và ký ức của cuộc chiến trở nên phức tạp. Huyền thoại về "nhát kiếm sau lưng", mong muốn xét lại "bản án độc đoán Versailles", và niềm tin vào một mối đe dọa quốc tế nhằm tiêu diệt dân tộc Đức vẫn tồn tại dai dẳng ở trung tâm nền chính trị Đức. Ngay cả một người chuộng hòa bình như Gustav Stresemann cũng công khai bác bỏ tội lỗi của nước Đức. Về phần mình, Đức Quốc xã đã giương cao ngọn cờ phản quốc nội bộ và âm mưu quốc tế nhằm kích động tinh thần phục thù của dân tộc Đức. Tương tự như nước Ý Phát xít, Đức Quốc xã đã tìm cách định hướng lại ký ức về cuộc chiến để phục vụ cho các chính sách của mình.

Trong khi đó, các quốc gia mới được giải phóng khỏi ách thống trị của Đức lại coi hiệp ước như một sự công nhận đối với những sai trái gây ra cho các quốc gia nhỏ bởi các nước láng giềng xâm lược lớn hơn nhiều.

Sự tan rã của Đế quốc Áo-Hung sau chiến tranh

Đế quốc Áo-Hung bị chia cắt thành nhiều quốc gia kế thừa, phần lớn nhưng không hoàn toàn theo ranh giới sắc tộc. Tiệp Khắc, Ý, Ba Lan, Romania và Nam Tư nhận được các vùng lãnh thổ từ nền Quân chủ Song kiến (trong khi Vương quốc Croatia-Slavonia trước đây từng là một thực thể riêng biệt và tự trị đã được sáp nhập vào Nam Tư). Các chi tiết cụ thể nằm trong các hiệp ước Saint-Germain-en-Laye và Trianon. Kết quả là Hungary mất 64% tổng dân số, giảm từ 20,9 triệu xuống còn 7,6 triệu người, và mất 31% (3,3 trên 10,7 triệu) người gốc Hungary. Theo cuộc điều tra dân số năm 1910, những người nói tiếng Hungary chiếm khoảng 54% toàn bộ dân số Vương quốc Hungary. Bên trong đất nước hiện diện nhiều dân tộc thiểu số: 16,1% người Romania, 10,5% người Slovak, 10,4% người Đức, 2,5% người Ruthenia, 2,5% người Serb, và 8% các sắc tộc khác. Từ năm 1920 đến 1924, có 354.000 người Hungary đã rời bỏ các vùng lãnh thổ cũ của Hungary vừa bị sáp nhập vào Romania, Tiệp Khắc và Nam Tư.

Nga mất phần lớn biên giới phía tây khi các quốc gia mới độc lập gồm Estonia, Phần Lan, Latvia, Litva, và Ba Lan được tách ra từ lãnh thổ của đế quốc. Romania nắm quyền kiểm soát Bessarabia vào tháng 4 năm 1918.

Bản sắc dân tộc

Sau 123 năm, Ba Lan tái xuất hiện với tư cách là một quốc gia độc lập. Vương quốc Serbia cùng vương triều của mình, với tư cách là một "quốc gia Hiệp ước nhỏ" và là quốc gia chịu nhiều thương vong nhất tính theo bình quân đầu người, đã trở thành xương sống của một quốc gia đa dân tộc mới, Vương quốc của người Serb, Croat và Slovene, sau này đổi tên thành Nam Tư. Tiệp Khắc, kết hợp giữa Vương quốc Bohemia với các phần của Vương quốc Hungary, trở thành một quốc gia mới. Romania đã thống nhất toàn bộ cộng đồng nói tiếng Romania dưới một nhà nước duy nhất, dẫn đến sự ra đời của Đại Romania.

Tại Úc và New Zealand, Trận Gallipoli được biết đến như "Lễ rửa tội bằng lửa" của các quốc gia này. Đây là cuộc đại chiến đầu tiên mà các quốc gia mới thành lập này tham chiến, và là một trong những lần đầu tiên binh lính Úc chiến đấu với tư cách là người Úc thực thụ chứ không đơn thuần là thần dân của Vương quyền Anh, qua đó bản sắc dân tộc độc lập của các quốc gia này bắt đầu bén rễ vững chắc. Ngày Anzac, được đặt tên theo Quân đoàn lính Úc và New Zealand (ANZAC), là ngày tưởng niệm thời khắc mang tính bước ngoặt này.

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Hy Lạp đã giao tranh với những người theo chủ nghĩa dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ dưới sự lãnh đạo của Mustafa Kemal, một cuộc chiến cuối cùng dẫn đến cuộc trao đổi dân cư quy mô lớn giữa hai quốc gia theo Hiệp ước Lausanne. Theo nhiều nguồn tư liệu khác nhau, hàng trăm nghìn người Hy Lạp đã thiệt mạng trong giai đoạn này, một biến cố gắn liền với cuộc diệt chủng người Hy Lạp.

Thương vong

Người dân vận chuyển một binh sĩ Ottoman bị thương tại Sirkeci

Ước tính số lượng thương vong quân sự và dân sự trong Chiến tranh thế giới thứ nhất vào khoảng 15 đến 22 triệu người tử vong cùng khoảng 23 triệu quân nhân bị thương, khiến cuộc chiến này nằm trong số những cuộc xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại. Tổng số người thiệt mạng bao gồm khoảng từ 9 đến 11 triệu quân nhân, cùng số lượng dân thường thiệt mạng ước tính từ 6 đến 13 triệu người.

Trong số 60 triệu quân nhân châu Âu được tổng động viên từ năm 1914 đến 1918, ước tính có 8 triệu người tử trận, 7 triệu người tàn tật vĩnh viễn và 15 triệu người bị thương nặng. Nước Đức mất 15,1% dân số nam giới trong độ tuổi lao động, Áo-Hung mất 17,1%, và Pháp mất 10,5%. Pháp đã động viên 7,8 triệu người, trong đó 1,4 triệu người tử trận và 3,2 triệu người bị thương. Khoảng 15.000 binh sĩ được triển khai chịu những vết thương khủng khiếp ở vùng mặt, dẫn đến việc bị kỳ thị và gạt ra bên lề xã hội; họ được gọi là những gueules cassées (gương mặt vỡ nát). Tại Đức, số ca tử vong ở dân thường cao hơn 474.000 người so với thời bình, phần lớn là do thiếu thốn lương thực và suy dinh dưỡng làm suy giảm sức đề kháng bệnh tật. Lượng tử vong vượt mức này ước tính là 271.000 người vào năm 1918, cộng thêm 71.000 người nữa trong nửa đầu năm 1919 khi lệnh phong tỏa vẫn còn hiệu lực. Nạn đói cùng cực đã cướp đi sinh mạng của khoảng 100.000 người tại Liban.

Bệnh viện dã chiến quân sự khẩn cấp trong đại dịch Cúm Tây Ban Nha tại Trại Funston, Kansas, năm 1918

Dịch bệnh bùng phát mạnh mẽ trong điều kiện chiến tranh hỗn loạn. Chỉ riêng trong năm 1914, bệnh thương hàn do chấy rận đã giết chết 200.000 người tại Serbia. Bắt đầu từ đầu năm 1918, một đợt dịch cúm quy mô lớn được gọi là Cúm Tây Ban Nha đã lan rộng khắp thế giới, bị đẩy nhanh bởi sự di chuyển của các khối lượng lớn binh sĩ thường bị nhồi nhét trong các trại lính và tàu vận tải với điều kiện vệ sinh kém cỏi. Cúm Tây Ban Nha đã giết chết ít nhất 17 đến 25 triệu người, bao gồm ước tính 2,64 triệu người châu Âu và tới 675.000 người Mỹ. Trong khoảng từ năm 1915 đến 1926, một đợt dịch Viêm não ngủ đã ảnh hưởng đến gần 5 triệu người trên toàn thế giới.

Tám triệu cá thể động vật họ ngựa, chủ yếu là ngựa, lừa và la đã chết, ba phần tư trong số đó là do điều kiện lao dịch quá khắc nghiệt mà chúng phải chịu đựng.

Tội ác chiến tranh

Vũ khí hóa học trong chiến tranh

Binh lính Pháp thực hiện một cuộc tấn công bằng khí độc và súng phun lửa vào chiến hào của Đức tại Flanders

Quân đội Đức là lực lượng đầu tiên triển khai thành công vũ khí hóa học trong Trận Ypres lần thứ hai (tháng 4–tháng 5 năm 1915), sau khi các nhà khoa học Đức dưới sự chỉ đạo của Fritz Haber tại Viện Kaiser Wilhelm phát triển phương pháp vũ khí hóa khí chlorine. Việc sử dụng vũ khí hóa học đã được Bộ Tổng chỉ huy Đức phê chuẩn nhằm đẩy binh lính Hiệp ước ra khỏi các vị trí phòng thủ chiến hào, đóng vai trò bổ trợ chứ không thay thế các vũ khí thông thường có tính sát thương cao hơn. Vũ khí hóa học đã được tất cả các bên tham chiến chính sử dụng trong suốt cuộc chiến, gây ra khoảng 1,3 triệu thương vong, trong đó khoảng 90.000 trường hợp tử vong. Việc sử dụng vũ khí hóa học trong chiến tranh là sự vi phạm trực tiếp Tuyên bố La Haye năm 1899 về Khí làm ngạt và Công ước La Haye năm 1907 về Chiến tranh trên bộ, vốn nghiêm cấm việc sử dụng chúng.

Các cuộc diệt chủng của Đế quốc Ottoman

Người Armenia bị sát hại trong cuộc diệt chủng người Armenia. Hình ảnh trích từ cuốn sách Ambassador Morgenthau's Story do Henry Morgenthau Sr. chấp bút và xuất bản năm 1918.

Hoạt động thanh trừng sắc tộc đối với dân số Armenia của Đế quốc Ottoman, bao gồm các vụ trục xuất và hành quyết hàng loạt trong những năm cuối cùng của Đế quốc Ottoman, được coi là hành vi diệt chủng. Người Ottoman đã tiến hành các vụ thảm sát có tổ chức và có hệ thống nhằm vào dân cư Armenia vào đầu cuộc chiến, đồng thời bóp méo các hành động kháng cự của người Armenia bằng cách miêu tả chúng như những cuộc nổi loạn để biện minh cho việc tiêu diệt sâu hơn. Vào đầu năm 1915, một số người Armenia tình nguyện gia nhập lực lượng Nga và chính phủ Ottoman đã lấy cớ này để ban hành Luật Tehcir (Luật Trục xuất), cho phép trục xuất người Armenia khỏi các tỉnh phía đông của Đế chế sang Syria trong giai đoạn từ năm 1915 đến 1918. Người Armenia đã bị cố tình bắt tham gia các cuộc hành quân chết chóc và một số lượng lớn bị các băng cướp Ottoman tấn công sát hại. Mặc dù con số thương vong chính xác vẫn chưa được biết, Hiệp hội các nhà nghiên cứu diệt chủng quốc tế ước tính con số này vào khoảng 1,5 triệu người. Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục phủ nhận cuộc diệt chủng cho đến ngày nay, lập luận rằng những người thiệt mạng là nạn nhân của các cuộc xung đột giữa các sắc tộc, nạn đói hoặc bệnh tật trong Chiến tranh thế giới thứ nhất; những tuyên bố này đều bị hầu hết các nhà sử học bác bỏ.

Các nhóm sắc tộc khác cũng bị Đế quốc Ottoman tấn công tương tự trong thời kỳ này, bao gồm người Assyria và người Hy Lạp, và một số học giả coi những sự kiện này là một phần của cùng một chính sách tiêu diệt tận gốc. Ít nhất 250.000 tín đồ Cơ đốc giáo Assyria, chiếm khoảng một nửa dân số của họ, và từ 350.000 đến 750.000 người Hy Lạp Anatolia và người Hy Lạp Pontic đã bị giết hại từ năm 1915 đến 1922.

Tù binh chiến tranh

Tù binh Anh bị lực lượng Ottoman canh giữ sau Trận Gaza lần thứ nhất năm 1917

Khoảng 8 triệu binh sĩ đã đầu hàng và bị giam giữ trong các trại tù binh trong suốt cuộc chiến. Mọi quốc gia đều cam kết tuân thủ Công ước La Haye về việc đối xử nhân đạo với tù binh chiến tranh, và tỷ lệ sống sót của tù binh nhìn chung cao hơn nhiều so với những người lính trực tiếp chiến đấu ngoài mặt trận.

Khoảng 25–31% tổn thất của Nga (tính theo tỷ lệ bị bắt, bị thương hoặc bị tử trận) là rơi vào tình trạng tù binh; đối với Áo-Hung con số này là 32%; đối với Ý là 26%; đối với Pháp là 12%; đối với Đức là 9%; và đối với Anh là 7%. Tổng số tù binh từ quân đội các nước phe Hiệp ước lên tới khoảng 1,4 triệu người (chưa tính Nga, quốc gia có 2,5–3,5 triệu binh lính bị bắt làm tù binh). Phía phe Liên minh Trung tâm, khoảng 3,3 triệu binh lính bị bắt làm tù binh; phần lớn trong số này đã đầu hàng trước quân Nga.

Tác động kinh tế

Cuộc chiến đã để lại những hệ lụy kinh tế sâu sắc ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô. Cấu trúc gia đình bị xáo trộn do sự ra đi của nhiều nam giới. Trước cái chết hoặc sự vắng mặt của lao động trụ cột, phụ nữ buộc phải tham gia vào lực lượng lao động với số lượng chưa từng có. Đồng thời, nền công nghiệp cũng cần bù đắp lực lượng lao động thiếu hụt đã bị điều động ra chiến trường. Việc phụ nữ chuyển sang làm việc trong các ngành công nghiệp và những công việc nặng nhọc vốn theo truyền thống chỉ dành cho nam giới rốt cuộc đã thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đấu tranh đòi quyền bầu cử cho phụ nữ.

Áp phích cổ động hình ảnh các nữ công nhân, năm 1915

Tại tất cả các quốc gia tham chiến, tỷ trọng chi tiêu của chính phủ trong GDP đều tăng vọt, vượt quá 50% ở cả Đức lẫn Pháp và gần đạt tới mức đó ở Anh. Để chi trả cho các hợp đồng mua sắm tại Mỹ, Anh đã bán tháo các khoản đầu tư quy mô lớn vào hệ thống đường sắt của Mỹ, rồi sau đó bắt đầu vay nợ ồ ạt từ Phố Wall. Tổng thống Wilson từng đứng trước bờ vực cắt đứt các khoản cho vay này vào cuối năm 1916, nhưng rốt cuộc đã cho phép gia tăng đáng kể các khoản tín dụng từ chính phủ Hoa Kỳ dành cho phe Hiệp ước. Sau năm 1919, Mỹ yêu cầu hoàn trả các khoản nợ này. Nguồn tiền trả nợ một phần được bù đắp từ các khoản bồi thường chiến phí của Đức vốn lại được tài trợ bởi các khoản vay từ các ngân hàng Mỹ cho Đức. Hệ thống tuần hoàn khép kín này đã sụp đổ hoàn toàn vào năm 1931 và một số khoản vay không bao giờ được thanh toán. Tính đến năm 1934, Anh vẫn còn nợ Hoa Kỳ 4,4 tỷ đô la nợ phát sinh từ Chiến tranh thế giới thứ nhất; khoản thanh toán cuối cùng chỉ được hoàn tất vào năm 2015.

Nước Anh đã tìm đến các thuộc địa để tìm kiếm nguồn cung cấp các nguyên vật liệu chiến tranh thiết yếu khi việc tiếp cận các nguồn cung truyền thống trở nên bế tắc. Các nhà địa chất học như Albert Kitson được huy động để khảo sát các nguồn tài nguyên khoáng sản quý giá mới tại các thuộc địa châu Phi. Kitson đã phát hiện ra các mỏ quặng mangan mới có trữ lượng quan trọng vốn phục vụ đắc lực cho công nghiệp sản xuất đạn dược tại Bờ Biển Vàng.

Điều 231 của Hòa ước Versailles (thường gọi là "điều khoản tội lỗi chiến tranh") tuyên bố nước Đức chấp nhận trách nhiệm đối với "mọi tổn thất và thiệt hại mà các Chính phủ Hiệp ước và Liên kết cùng công dân của họ phải gánh chịu như một hệ quả của cuộc chiến tranh do sự gây hấn của Đức và các đồng minh áp đặt lên họ." Điều khoản được soạn thảo với lời lẽ như vậy nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các khoản bồi thường chiến phí, và một điều khoản tương tự cũng được cài cắm vào các hiệp ước ký với Áo và Hungary. Tuy nhiên, cả hai nước này đều không diễn giải điều đó như một sự thừa nhận tội lỗi chiến tranh. Năm 1921, tổng số tiền bồi thường được ấn định ở mức 132 tỷ mác vàng. Dẫu vậy, "các chuyên gia phe Hiệp ước đều biết rằng Đức không thể trả nổi" khoản tiền này. Tổng số tiền được chia thành ba hạng mục, trong đó hạng mục thứ ba được "chủ ý thiết kế mang tính ảo tưởng" với "chức năng chính là đánh lừa dư luận công chúng ... tin rằng 'tổng mức bồi thường vẫn được duy trì.'" Do đó, con số 50 tỷ mác vàng (tương đương 12,5 tỷ đô la) "thực chất đại diện cho đánh giá thực tế của phe Hiệp ước về khả năng chi trả của Đức" và "vì vậy ... phản ánh tổng số tiền bồi thường thực tế của Đức" bắt buộc phải thanh toán.

Con số này có thể được chi trả bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật (than đá, gỗ, thuốc nhuộm hóa chất,...). Một số vùng lãnh thổ bị mất thông qua Hòa ước Versailles cũng được khấu trừ vào số tiền bồi thường, tương tự như các hành động hỗ trợ khác chẳng hạn như việc phục dựng Thư viện Louvain. Đến năm 1929, cuộc Đại khủng hoảng đã gây ra sự hỗn loạn chính trị trên toàn cầu. Năm 1932, việc chi trả bồi thường chiến phí bị cộng đồng quốc tế đình chỉ, thời điểm mà Đức chỉ mới thanh toán số tiền tương đương 20,598 tỷ mác vàng. Với sự trỗi dậy của Adolf Hitler, toàn bộ các trái phiếu và khoản vay được phát hành và tiếp nhận trong những năm 1920 và đầu những năm 1930 đều bị hủy bỏ. David Andelman nhận định: "Việc từ chối trả tiền không làm cho một thỏa thuận trở nên vô hiệu. Các trái phiếu, các hiệp định đó vẫn tồn tại." Do đó, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tại Hội nghị Luân Đôn năm 1953, Đức đã đồng ý nối lại việc chi trả cho các khoản tiền đã vay nợ. Vào ngày 3 tháng 10 năm 2010, Đức đã thực hiện khoản thanh toán cuối cùng cho các trái phiếu này.

Thủ tướng Úc, Billy Hughes, đã viết thư gửi Thủ tướng Anh, David Lloyd George: "Ngài đã bảo đảm với chúng tôi rằng ngài không thể giành được các điều khoản tốt hơn. Tôi vô cùng lấy làm tiếc về điều đó, và vẫn hy vọng ngay lúc này có thể tìm ra phương thức nào đó nhằm bảo đảm sự đồng thuận để đòi hỏi khoản bồi thường tương xứng với những hy sinh to lớn mà Đế quốc Anh cùng các Đồng minh đã gánh chịu." Nước Úc nhận được 5.571.720 bảng Anh tiền bồi thường chiến phí, nhưng chi phí chiến tranh trực tiếp của Úc lên tới 376.993.052 bảng Anh, và đến giữa những năm 1930, các khoản chi trả lương hưu hồi hương, trợ cấp chiến tranh, tiền lãi và chi phí quỹ thanh toán nợ đã lên tới 831.280.947 bảng Anh.

Đặc điểm chiến tranh trong thế chiến thứ nhất

Chiến tranh thế giới thứ nhất lần đầu tiên trong lịch sử thế giới là một cuộc chiến tranh hiện đại, tổng lực, toàn diện và có sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt, là cuộc chiến tranh với đầy đủ chiến tranh trên bộ, trên không và trên biển. Các nhà nghiên cứu quân sự đánh giá cuộc chiến trên bộ của chiến tranh này là chiến tranh với công nghệ của thế kỷ XX và với tư duy chiến thuật của thế kỷ XIX với phương thức tiến hành chiến tranh lạc hậu đánh nhau thương vong cực kỳ to lớn mà hiệu quả chiến đấu rất thấp. Ngược lại chiến tranh trên biển và trên không mang tính chất rất cách mạng với hình thức chiến tranh khác rất xa với các cuộc chiến tranh trước đây, và sau này được Chiến tranh thế giới thứ hai phát triển lên mức cao hơn.

Chiến tranh trên bộ

Bộ binh Romania

Nhìn một cách tổng thể chiến tranh trên bộ của thế chiến thứ nhất là cuộc chiến tranh chiến hào với các tư duy phòng thủ trận địa với chiến thuật tấn công lạc hậu. Với hình thức phòng thủ trong chiến hào có chiều sâu với hệ thống dây thép gai, bãi mìn và các hỏa điểm súng máy cố thủ, phía sau có pháo binh yểm trợ, thì chiến tranh có "sự mất cân đối" rất lớn giữa "tấn công" và "phòng ngự". Quân phòng ngự có thể dễ dàng bẻ gãy các cuộc tấn công của đối phương: các súng máy trong công sự, lô cốt, pháo binh và bãi mìn dây thép gai, gây chết chóc rất lớn cho các cuộc tấn công của kỵ binh và chiến thuật biển người của bộ binh đối phương, và nếu mất tuyến phòng ngự thì cũng có đủ thời gian để có thể nhanh chóng kéo quân dự bị tới lập tuyến mới phía sau. Ngược lại, quân tấn công thường phải chịu hy sinh rất lớn mới có thể đánh chiếm được các tuyến phòng thủ của địch và cũng không có phương tiện và phương cách để phát triển tấn công. Trong năm 1915, quân Đức đã chọc thủng phòng tuyến Nga và tấn công thắng lợi nhưng đó là do sự kém cỏi về xã hội, kinh tế và sự thiếu thốn trang bị của Nga so với Đức. Với các quân đội có trình độ phát triển tương đương như Anh, Pháp, Đức thì sự mất cân đối tấn công – phòng thủ này dẫn đến tình trạng chiến tranh chiến hào lâu dài ổn định không ai dứt điểm nổi ai mà chỉ ép dần đối phương từng tí một (một cuộc tấn công tiến lên được 10 – 20 km đã được coi là thắng lợi). Kết quả chiến tranh phụ thuộc vào sức chịu đựng dẻo dai của các bên đối với sức nặng lâu dài của chiến tranh.

Quân Nga trong chiến hào

Cũng trong chiến tranh này đã xuất hiện các hình thức chiến thuật để đánh chiếm chiến tuyến địch và phát triển tấn công trên cơ sở vũ khí hiện có và thể hiện sáng chói nhất là chiến thắng vang dội của phương diện quân Tây Nam của Nga dưới sự chỉ huy của tướng Aleksey Alekseyevich Brusilov tại Galicia tháng 6 năm 1916 chống quân Áo – Hung: với một quân đội Nga yếu kém, lạc hậu, mất tinh thần sau trận thảm bại năm 1915, nhưng với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, quân Nga đã chọc thủng chiến tuyến Áo – Hung và tấn công ồ ạt trên diện rộng đánh bại quân đội Áo – Hung. Tuy nhiên sau khi rút kinh nghiệm, quân phòng thủ cũng đã khắc chế được các chiến thuật mới này và hình thức chiến tranh chiến hào vẫn là chủ đạo và bất biến.

Chỉ đến khi xe tăng xuất hiện vào cuối năm 1916 và phát triển thì hình thức chiến tranh chiến hào này mới bắt đầu lỏng lẻo, nhưng sự hạn chế về tính năng của những cỗ xe tăng trong thời kỳ này khiến nó vẫn chưa đủ sức bẻ gãy hệ thống chiến hào. Phải đến Chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống chiến hào mới tỏ rõ sự bất lực trước sức tấn công cơ động của xe thiết giáp, và cuộc chiến tranh chiến hào cuối cùng trên thế giới là cuộc Chiến tranh Triều Tiên.

Chiến tranh trên biển, trên không

Chiến tranh trên biển của thế chiến thứ nhất diễn ra rất quyết liệt và được gọi là trận chiến Đại Tây Dương lần thứ nhất nó mang tính chất hoàn toàn mới so với các cuộc chiến tranh trên biển trước đây: Cuộc chiến này báo hiệu chấm dứt thời đại các trận hải chiến lớn của các armada cổ điển (hạm đội mặt nước). Việc bao vây kinh tế đánh phá giao thông trên biển được thực hiện một cách hiệu quả hơn bằng phương tiện chiến tranh rất mới là tàu ngầm. Và trong cuộc chiến này tuy lực lượng Hải quân Đức còn thua xa Hải quân Hoàng gia Anh nhưng lực lượng tàu ngầm Đức khi đó với kỹ thuật hiện đại đã làm rất tốt công việc đánh phá vận tải biển của Anh, đã có lúc làm phát sinh nạn đói ở nước này.

Quân Đức ở Sedan, Pháp năm 1917

Thời gian đầu chiến tranh các tàu vận tải của Anh đi tự do không có bảo vệ nên bị tàu ngầm Đức đánh đắm rất nhiều dưới hình thức "săn mồi tự do". Để hạn chế thiệt hại do tàu ngầm, Anh đã áp dụng biện pháp "convoy" (đoàn hộ tống): các tàu vận tải đi theo đoàn lớn dưới sự bảo vệ bên ngoài của tàu chiến. Biện pháp này ban đầu rất hiệu quả vì khi đó tàu ngầm còn rất thô sơ mang được ít ngư lôi và ngư lôi chất lượng không cao hay bắn trượt, nên tàu ngầm thường chỉ bắn ngư lôi vào tàu chiến đối phương, còn để tiêu diệt tàu vận tải thì bằng cách nổi lên dùng pháo bắn. Với sự bảo vệ của đoàn tàu chiến trong convoy thì việc này không thực hiện được nữa. Sau đó tàu ngầm Đức đổi chiến thuật: các tàu ngầm đi thành bầy lớn khi phát hiện đoàn convoy thì thay vì tấn công chúng bám theo chờ trời tối thì nổi lên bơi lẫn vào đoàn convoy và lần lượt hạ thủ các tàu vận tải, chiến thuật này về sau vẫn áp dụng cho cả Thế chiến II... Việc đánh vận tải và đảm bảo vận tải diễn ra quyết liệt và rất năng động từ hai phía. Để tăng cường sức ép lên nước Anh, Đức đã hai lần tuyên bố chiến tranh tàu ngầm không hạn chế không chấp nhận trung lập của bất kỳ tàu của quốc gia nào, tàu ngầm Đức bắn cả vào tàu Mỹ chở hàng cho Anh là nguyên nhân để Hoa Kỳ tham gia chiến tranh chống Đức.

Trong Thế chiến I lần đầu tiên xuất hiện một loại binh chủng mới là không quân. Vì là loại hình mới trang bị còn rất thô sơ nên chiến tranh trên không chưa có ý nghĩa lớn và chưa thể gây được tác động lớn đến kết quả chiến tranh. Tuy nhiên nó cũng đã có các hình thức chiến đấu mà ngay sau chiến tranh được các bên tích cực phát triển đó là không chiến của các máy bay cánh cố định đánh nhau; tấn công mặt đất của máy bay đối với lực lượng mặt đất; ném bom tầm xa với các zepperlin, trinh sát bởi máy bay hoặc khinh khí cầu.

Các vũ khí mới

Lính kỵ binh Anh và ngựa đều phải mang "mặt nạ phòng độc"

Chiến tranh thế giới thứ nhất đã cho thấy các thứ vũ khí mới với hiệu quả huỷ diệt rất mạnh.

  • Vũ khí hoá học là đặc sản của Thế chiến I: lần đầu tiên loài người sử dụng vũ khí hoá học nhân tạo một cách ồ ạt và quy mô lớn với các dạng hoá chất độc khác nhau từ loại ít nguy hiểm nhất là hơi cay hay chất làm chảy nước mắt đến loại khí nguy hiểm hơn nhưng không chết người chỉ loại khỏi vòng chiến như hơi mù tạc, Yprit (gây lở loét da và lấy tên theo địa điểm diễn ra trận tấn công hoá học là Ypres) và cao hơn nữa là hơi ngạt clo và các chất gây tử vong khác như phosgene. Để chống lại vũ khí hoá học các bên đã sử dụng phương tiện rất hiệu quả là mặt nạ phòng độc. Vào cuối kỳ chiến tranh việc sử dụng vũ khí hoá học giảm hẳn vì các bên sợ leo thang rất nguy hiểm của loại vũ khí này và việc dùng chúng nhiều khi phản tác dụng (gió đổi chiều thì tự hại quân mình) vì thời kỳ đó việc phát tán tác nhân hoá học còn thô sơ chủ yếu dựa vào gió.
  • Súng máy liên thanh: là loại vũ khí tuy ra đời từ trước thế chiến nhưng trong thế chiến đã thể hiện rõ uy lực của mình và làm thay đổi chiến thuật chiến đấu. Do trình độ kỹ thuật khi đó còn chưa hoàn thiện nên súng máy bắn nhanh có kích thước khá to và nặng nên nó không phải là vũ khí cá nhân mà bố trí cố định để phòng thủ. Súng máy liên thanh có thể bắn hàng trăm phát mỗi phút trong khi đó quân bộ binh tấn công vẫn dùng súng trường lên quy lát bắn phát một, đó cũng là một nguyên nhân gây nên sự mất cân đối tấn công - phòng thủ. Súng máy đặt trong công sự dễ dàng vô hiệu hoá các cuộc tấn công bằng bộ binh "làn sóng người" và các cuộc tấn công của kỵ binh. Chính với sự phát triển của súng máy mà kỵ binh hết thời và ngày càng suy giảm.
Máy bay Anh Sopwith Camel
  • Đạn pháo phá mảnh: Để chống lại làn sóng bộ binh tấn công các bên áp dụng đạn pháo phá mảnh để tăng tính sát thương, chính số lượng chết trận nhiều nhất của quân sĩ là do pháo binh với đạn pháo phá mảnh. Với sự áp dụng của pháo binh bắn nhanh, đạn pháo phá mảnh uy lực huỷ diệt lớn cộng với hoả lực súng máy đã làm chấm dứt chiến thuật đội hình ô vuông và làm phát sinh đội hình tản mác của bộ binh và kéo theo các thay đổi khác của tác chiến trên bộ.
  • Máy bay: đây là cuộc chiến tranh có sự tham gia đông đảo đầu tiên của máy bay, do máy bay đang ở giai đoạn đầu phát triển còn rất thô sơ, bay chậm và thấp, mang được ít vũ khí, nhưng nó đã thể hiện khả năng chiến đấu rất hiệu quả và sau này được các bên nhận thấy các tiềm năng phát triển rất lớn. Trong đại chiến máy bay làm các nhiệm vụ không chiến (đánh nhau với máy bay địch), tấn công mặt đất, trinh sát, liên lạc.
Tàu ngầm U16 của Đức
  • Tàu ngầm: đây là vũ khí có hiệu quả nhất của Thế chiến I. Với tàu ngầm thì một hạm đội yếu có thể chống lại một hạm đội mạnh một cách hiệu quả. Một sự đầu tư nhỏ hơn (vào tàu ngầm) mang lại hiệu quả lớn hơn nhiều khi xây dựng các hạm tàu mặt nước lớn. Điều đó giải thích tại sao Hải quân Đức dồn sức xây dựng lực lượng tàu ngầm U-boat của mình trong cả Thế chiến I và Thế chiến II. Thời gian này tàu ngầm còn rất thô sơ hoạt động nổi là chủ yếu, chỉ lặn xuống khi gặp tàu chiến đối phương và vũ khí ngư lôi mang theo cũng không nhiều, độ chính xác kém, thường tàu ngầm chỉ dùng ngư lôi để bắn tàu chiến đối phương khi đang lặn, còn đối với tàu vận tải thì nó nổi lên dùng pháo để bắn chìm. Với sự nguy hiểm của tàu ngầm đã diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa phá giao thông và bảo vệ giao thông trên biển cũng như giữa tàu ngầm và tàu săn ngầm với các thiết bị thủy âm phát hiện tàu ngầm. Trong thế chiến này lực lượng tàu ngầm của Đức đã đánh chìm một lượng lớn tải trọng tàu vận tải của Anh và làm kinh tế Anh lao đao, nhưng đồng thời nó cũng bị thiệt hại rất nặng nề.
Xe tăng đi trước, bộ binh Canada theo sau, mặt trận Vimy 1917
  • Xe tăng: đây là vũ khí ra đời trong thế chiến để khắc phục sự mất cân đối giữa tấn công và phòng ngự tuy xe tăng còn rất thô sơ thiếu độ tin cậy nhưng đã chứng minh được tiềm năng phát triển của mình và các bên đua nhau chế tạo xe tăng. Từ trận đầu tham chiến vào tháng 9 năm 1916 tại trận Sông Somme đến năm 1917 phía Entente có trận Cambrai đã huy động hơn 400 xe tăng để tấn công. Tuy nhiên xe tăng trong thế chiến I vì các tính năng còn yếu kém của mình mới chỉ được sử dụng như phương tiện yểm trợ bộ binh để đánh chiến tuyến của địch, chỉ đến Chiến tranh thế giới thứ hai xe tăng mới phát huy hết tính năng tấn công cơ động thọc sâu của nó.

Những bài học chính trị của Chiến tranh thế giới thứ nhất

Mustafa Kemal Atatürk - người anh hùng dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và Chiến tranh Giải phóng Dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ.
  • Chiến tranh thế giới cho thấy, trong điều kiện của các mối quan hệ chặt chẽ của thế giới, của công nghệ cao, quy mô toàn cầu, với độ tàn phá khủng khiếp của chiến tranh thì "không ai có thể có lợi trong chiến tranh nếu nó nổ ra, thậm chí là chiến tranh khu vực". Đối với Đế quốc Anh, cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất là một chiến thắng kiểu Pyrros của họ. Họ gặp khó khăn trong việc duy trì Đế chế rộng lớn của họ kể từ sau cuộc chiến kinh hoàng này. Pháp còn thể hiện chiến thắng kiểu Pyrros rõ ràng hơn Anh Quốc. Nhờ có cao trào Cách mạng Nga năm 1917, Pháp không thể liên minh với nước Nga được nữa. Người Đức đã đập phá tan tành những trung tâm công nghiệp của Pháp và chinh phạt được đủ đất đai để có thể thực hiện phần lớn chiến lược về cuối cuộc Đại chiến. Cả Anh Quốc và Pháp đều chỉ có thể chấm dứt cuộc chiến nhờ sự đổ bộ của quân Mỹ. Cuộc chiến tranh chứng tỏ rằng nước Đức mạnh hơn Pháp, do đó Pháp không thể nào một mình thắng Đức. Bị khánh kiệt, nhiều người Pháp sau cuộc Đại chiến thường cho rằng "chúng ta không thể làm nên một trận Verdun nữa". Thủ tướng Pháp Clemenceau cũng thừa nhận rằng trong vài năm tới, nước Đức sẽ bỏ xa Pháp về công nghiệp, thương mại và tài chính. Với những lợi thế này, sau chiến tranh nước Đức phát triển bỏ xa Pháp và tạo điều kiện cho Đức một lần nữa lên tranh hùng tranh bá. Giữa thập niên năm 1920, nhiều người Pháp tin chắc rằng nước này sẽ một lần nữa bị người Đức tiến công. Cho đến năm 1939, mọi việc đã chứng tỏ chiến thắng kiểu Pyrros của các nước Entente dẫn đến sự suy yếu của bọn họ. Chiến thắng kiểu Pyrros của Pháp trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kế tiếp đại bại thê thảm của Pháp trong cuộc chiến tranh chống Phổ (1870–1871), và được kế tiếp bởi đại bại tả tơi của quân Pháp trước các chiến binh tinh nhuệ Đức vào năm 1940 và trước những cao trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa (như vào năm 1954 tại Việt Nam và 1962 tại Algérie). Và, như đã nói, không lâu sau cuộc Đại chiến, vào năm 1923, các nước Anh, Pháp, Ý, Hy Lạp đều phải chịu thất bại trong cuộc Chiến tranh Giải phóng Dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ. Những chiến bại thê thảm ấy cũng là vì sự nhừ đòn và tổn hại khủng khiếp của Pháp trong cuộc Đại chiến 1914–1918 này.
  • Thế giới đã đi vào giai đoạn phát triển kinh tế, văn hoá, chính trị có trình độ cao, ở mức trình độ đó thế giới không thể còn chỗ cho Chủ nghĩa đế quốc và các loại Chủ nghĩa nước lớn trắng trợn. Với các quan hệ quốc tế chặt chẽ và quyền lợi đan xen thì Chủ nghĩa ích kỷ ở phạm vi quốc gia và quốc tế tất yếu dẫn đến xung đột đối kháng, và chiến tranh thì đều thiệt hại cho tất cả các bên. Tư duy đế quốc Chủ nghĩa phải bị loại trừ ra khỏi các quan hệ quốc tế, nảy sinh loại tư duy mới là "cùng tồn tại hoà bình, thoả hiệp các lợi ích trên cơ sở các bên cùng có lợi". Chính vì vậy ngay sau Thế chiến I các nước đã đồng lòng tổ chức ra Hội Quốc Liên với mục tiêu để điều hoà các quan hệ quốc tế trên cơ sở các bên cùng chấp nhận được.
  • Hệ thống thuộc địa như nguyên nhân của mâu thuẫn phải bị loại bỏ, bắt đầu từ Thế chiến I hệ thống thuộc địa thế giới bắt đầu lỏng lẻo và đến sau Thế chiến II thì diễn ra quá trình phi thực dân hoá ồ ạt với sự cổ vũ và chấp nhận của nhiều cường quốc thế giới.
Quân Đức tiêu diệt một nhóm lính Pháp năm 1917
Xu bạc: 1 đô la Mỹ, Kỷ niệm 100 năm Thế chiến thứ nhất, đúc năm 2018, dưới thời Tổng thống Donald Trump; Đồng xu có đường kính 40,6mm; trọng lượng 26,73gr và tỷ lệ bạc 90%
  • Một bài học rất to lớn của Thế chiến I và II cho thấy: "Yếu tố dân tộc quốc gia là có động lực rất lớn và các quyền lợi chính đáng của nó phải được tôn trọng". Tình hình quốc tế không thể yên nếu dựa trên cơ sở không tôn trọng tình cảm, quyền lợi chính đáng của quốc gia, dân tộc. Một dân tộc bị dồn vào thế cùng đường sẽ phản ứng rất mãnh liệt gây hậu hoạ cho hoà bình thế giới. Một ví dụ rất điển hình: sự kiềm chế kìm hãm càng chặt chẽ đối với Đức sau Thế chiến I chỉ càng thúc đẩy Chủ nghĩa phục thù với sự tìm kiếm các phương sách càng quyết liệt, cực đoan hơn của Hitler và cuối cùng là với các kết quả thảm khốc đối với người kìm hãm. Sau Thế chiến II Hoa Kỳ như một thế lực lãnh đạo thế giới đã nhận thức được vấn đề này nên trong chương trình tái thiết sau chiến tranh đã giúp đỡ cả các nước kẻ thù thua trận: Đức, Ý, Nhật để các nước này vươn lên không ở vị thế buộc phải lao tiếp vào Chủ nghĩa phục thù.
  • Và một bài học cuối đúc rút từ các bài học trên "Vấn đề chiến tranh và hoà bình là vấn đề chung của cả thế giới". Một khi chiến tranh nổ ra nó dễ dàng kéo cả thế giới vào cuộc. Với hậu quả quá khốc liệt của chiến tranh loài người phải nhận thức được sự cần thiết "cần ngăn chặn nó trước khi quá muộn" đó phải là nỗ lực chung của tất cả các nước.

Hiện nay, tuy đã có rất nhiều cuộc chiến tranh khu vực nổ ra và đã có lúc thế giới bên bờ vực chiến tranh, nhưng về cơ bản hoà bình thế giới vẫn được giữ vững và chưa thấy có triệu chứng của một đại chiến mới. Điều đó cho thấy ít nhiều thì nhân loại cũng đã rút được các bài học chính trị của hai cuộc đại chiến, đã biết hoá giải các mâu thuẫn bằng hòa bình, và chí ít thì đó cũng là một đóng góp của Chiến tranh thế giới thứ nhất (và thứ hai) vào tri thức nhân loại.

Ghi chú

  1. Hoa Kỳ đã không phê chuẩn bất cứ một hiệp ước nào được ký kết tại Hội nghị Hòa bình Paris.
  2. Bulgaria gia nhập Liên minh Trung tâm vào ngày 14 tháng 10 năm 1915.
  3. Đế quốc Ottoman đồng ý liên minh bí mật với Đức vào ngày 2 tháng 8 năm 1914. Nước này tham gia cuộc chiến với phe Liên minh Trung tâm vào ngày 29 tháng 10 năm 1914.
  4. Hoa Kỳ tuyên chiến với Áo–Hung vào ngày 7 tháng 12 năm 1917.
  5. Áo được coi là một trong những quốc gia kế thừa của Áo–Hung.
  6. Hoa Kỳ tuyên chiến với Đức vào ngày 6 tháng 4 năm 1917.
  7. Hungary được coi là một trong những quốc gia kế thừa của Áo–Hung.
  8. Mặc dù Hòa ước Sèvres trước đó đã chấm dứt chiến tranh giữa Khối Đồng minh và Đế quốc Ottoman, Khối Đồng minh và Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, quốc gia kế vị của Đế quốc Ottoman, nhưng họ đều đồng tình với Hòa ước Lausanne.
  9. Cộng hòa Nga trong năm 1917. Chính phủ Bolshevik đã ký kết hòa ước riêng với Liên minh Trung tâm ngay sau khi họ nắm chính quyền vào tháng 11 cùng năm.
  10. Qua đời vào năm 1916 vì bệnh viêm phổi, được kế vị bởi Charles (Karl) I của Áo
  11. Qua đời vào tháng 7 năm 1918 và được kế vị bởi Mehmed VI
  12. Số liệu chung của chính quốc Pháp và các thuộc địa
  13. Số liệu chung của Anh và các thuộc địa; những vùng tự trị và Ấn Độ được liệt kê riêng
  14. Chỉ có Entente là "liên minh" chính thức; các khối khác được liệt kê là các hình thức hỗ trợ không chính thức.
  15. Tiếng Đức: Skagerrakschlacht, tức "Trận Skagerrak"
  16. Bessarabia tiếp tục là một phần của Romania cho đến năm 1940, khi vùng này bị Joseph Stalin sáp nhập để thành lập Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia; sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, vùng đất này trở thành nước Cộng hòa Moldova độc lập
  17. Không giống như các đế chế khác, quốc gia kế thừa của Đế quốc Nga là Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết vẫn duy trì các đường biên giới bên ngoài tương tự, thông qua việc giữ lại hoặc nhanh chóng thu hồi các vùng lãnh thổ đã mất.
  18. Một nỗ lực của Đức nhằm sử dụng vũ khí hóa học trên mặt trận Nga vào tháng 1 năm 1915 đã không thể gây ra thương vong.
  19. 109 trong ngữ cảnh này – xem Quy mô ngắn và dài
  20. Chiến tranh thế giới thứ nhất chính thức khép lại khi Đức thanh toán xong khoản bồi thường chiến phí cuối cùng do phe Hiệp ước áp đặt lên mình.

Nguồn: “Chiến tranh thế giới thứ nhất” — Wikipedia tiếng Việt, theo giấy phép CC BY-SA 4.0. Cập nhật lần cuối: .

Xem bản gốc