Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một chính phủ lâm thời có vũ trang ở miền Nam Việt Nam tồn tại song song với chính thể Việt Nam Cộng hòa bắt đầu từ ngày 6 tháng 6 năm 1969 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, quản lý các vùng lãnh thổ tại miền Nam Việt Nam không thuộc sự kiểm soát của Hoa Kỳ - Việt Nam Cộng hòa và là chính phủ đối lập với chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Chính thể này thành lập bởi Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam tổ chức trong ba ngày 6 đến 8 tháng 6 năm 1969 trong đó thông qua bản Nghị quyết cơ bản thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, xác nhận rõ đây không phải một nước mà là một chính thể.
| CHXNCN Việt Nam |
Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (tiếng Anh: Provisional Revolutionary Government of the Republic of South Vietnam) là một chính phủ lâm thời có vũ trang ở miền Nam Việt Nam tồn tại song song với chính thể Việt Nam Cộng hòa bắt đầu từ ngày 6 tháng 6 năm 1969 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, quản lý các vùng lãnh thổ tại miền Nam Việt Nam không thuộc sự kiểm soát của Hoa Kỳ - Việt Nam Cộng hòa và là chính phủ đối lập với chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Chính thể này thành lập bởi Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam tổ chức trong ba ngày 6 đến 8 tháng 6 năm 1969 trong đó thông qua bản Nghị quyết cơ bản thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, xác nhận rõ đây không phải một nước mà là một chính thể.
Sau khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiếp quản toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam và là chính phủ hợp pháp của toàn bộ vùng lãnh thổ này. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc) và Cộng hòa miền Nam Việt Nam hợp nhất thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Vị trí địa lý và lãnh thổ
Lịch sử
Tham gia Đại hội thành lập chính phủ vào tháng 6 năm 1969 tại căn cứ Bắc Tây Ninh là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam do Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam lãnh đạo và một số nhóm nhỏ hơn, trong đó có Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam.
Theo tài liệu của Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì chính phủ của Cộng hòa miền Nam Việt Nam được 75 quốc gia công nhận vào cuối tháng 5 năm 1975.
Tháng 7 năm 1975, cả hai nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nộp đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc. Tháng 8, Mỹ bỏ phiếu chống việc gia nhập này. Theo một bài viết trên BBC tiếng Việt, việc phủ quyết được đánh giá là đã chấm dứt lộ trình dài 12–14 năm thống nhất hai nước, thúc ép cả hai nước mau chóng tiến hành thống nhất. Tuy nhiên theo hồi ký của bà Nguyễn Thị Bình, việc thống nhất đã được đưa ra bàn luận từ rất sớm và sau cùng ý kiến nhất trí cho rằng nên thực hiện thống nhất đất nước hoàn toàn về các mặt càng sớm càng tốt.
Tháng 2 năm 1976, chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra Nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam, sau khi sắp xếp lại có 21 tỉnh thành.
Ngày 2 tháng 7 năm 1976, thống nhất với miền Bắc tạo nên nước Việt Nam thống nhất.
Chính trị – Hành chính
Các cơ quan trung ương
Chủ tịch Chính phủ Huỳnh Tấn Phát là người lãnh đạo chính phủ. Chủ tịch Hội đồng cố vấn Nguyễn Hữu Thọ và Phó Chủ tịch Hội đồng cố vấn Trịnh Đình Thảo không có nhiều thực quyền.
Phân định các đơn vị hành chính
Giáo dục – Thanh niên
Ngoại giao
Từ tháng 6/1969 đến tháng 4/1970, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được 23 quốc gia trên thế giới công nhận, trong đó 21 nước đặt quan hệ ngoại giao. 23 quốc gia đã công nhận CPCMLT CHMNVN trên thực tế (de facto) hoặc chính thức (de jure) trong năm 1969 là: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, CHDCND Triều Tiên (Bắc Triều Tiên), CH Ả Rập Syria, CHND Mông Cổ, CHND Trung Hoa, VQ Campuchia, CH Iraq, CH Ả Rập Yemen (Bắc Yemen), CHDC Đức (Đông Đức), CHND Ba Lan, CHXHCN România, Liên bang Xô Viết, CHND Hungary, CHND Bulgaria, CHXHCN Tiệp Khắc, CHNDXHCN Albania, VQ Thụy Điển, CH Cuba, CHDCND Algérie, CH Ả Rập Thống nhất (Ai Cập), CH Hồi giáo Mauritanie, CHDC Sudan và CH Mali.
Đến tháng 10/1973 có 34 quốc gia công nhận và thiết lập ngoại giao. Đến tháng 6/1975 thì tổng số quốc gia thiết lập quan hệ ngoại giao với CHMNVN lên đến 49 nước (một số tài liệu ghi là hơn 50 nước). Bên cạnh đó CHMNVN có gần 30 đại sứ quán và cơ quan đại diện tại nước ngoài.


Danh sách các quốc gia có quan hệ ngoại giao
Các quốc gia công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Cộng hòa Miền Nam Việt Nam từ 6/6/1969 đến 2/7/1976 như sau:
| Giai đoạn | Châu Á | Châu Âu | Châu Mỹ | Châu Phi | Châu Đại Dương | Tổng cộng |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Trước khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc (30/4/1975) |
|
|
|
Không có | 40 | |
| Trước khi hợp nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/7/1976) |
|
|
|
|
32 | |
| Tổng cộng | 20 | 23 | 6 | 21 | 2 | 72 |
| Trường hợp chưa xác định rõ có thiết lập ngoại giao hay không |
|
|
6 |
Cũng cần lưu ý là nhiều quốc gia đã công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam trước đó. Và danh sách không bao gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dù cả 2 chính thể CHMNVN và VNDCCH đều công nhận lẫn nhau.
Như vậy có tổng cộng 72 quốc gia đã công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với CHMNVN. Có 1 quốc gia đã công nhận MTDTGPM trước đó là CH Congo nhưng chưa tìm được tài liệu nào cho thấy đã công nhận CHMNVN. Ngoài ra các quốc gia như CH Afghanistan, CHDCND Yemen (Nam Yemen), Hà Lan, Malagasy (Madagascar) và Zaire (CHDC Congo) vẫn chưa tìm được tài liệu chính xác về việc công nhận CHMNVN.
Nội vụ
Kinh tế – Tài chính
Quốc phòng
Thông tin – Văn hóa
Tư pháp
Y tế – Xã hội và Thương binh
Nguồn: “Cộng hòa miền Nam Việt Nam” — Wikipedia tiếng Việt, theo giấy phép CC BY-SA 4.0. Cập nhật lần cuối: .
Xem bản gốc