Kathmandu, được người dân địa phương gọi là Yẽn, là thủ đô và thành phố lớn nhất của Nepal, nằm ở miền trung đất nước trong Thung lũng Kathmandu ở phía Nam Himalayas, tại độ cao khoảng 1220, gần đoạn hợp lưu của sông Bāghmati và sông Vishnumati. Đây là thành phố lớn nhất và cũng là trung tâm văn hóa, hành chính, kinh tế chính của vương quốc núi non này. Một đường quốc lộ kéo dài về phía Bắc đến Lhasa ở Tây Tạng và một tuyến đường khác nữa nối Kathmandu với Raxaul, một trung tâm đường sắt ở Ấn Độ. Thành phố có một số ngôi chùa với kiến trúc đặc sắc. Ở đây cũng có Đại học Tribhuvan (1959) và Bảo tàng quốc gia Nepal.
Kathmandu (tiếng Nepal: काठमाडौँ [kaʈʰmaɖʌ̃ũ̯]), được người dân địa phương gọi là Yẽn (tiếng Bhasa Nepal: 𑐫𑐾𑑃 [jẽ]), là thủ đô và thành phố lớn nhất của Nepal, nằm ở miền trung đất nước trong Thung lũng Kathmandu ở phía Nam Himalayas, tại độ cao khoảng 1220, gần đoạn hợp lưu của sông Bāghmati và sông Vishnumati. Đây là thành phố lớn nhất và cũng là trung tâm văn hóa, hành chính, kinh tế chính của vương quốc núi non này. Một đường quốc lộ kéo dài về phía Bắc đến Lhasa ở Tây Tạng và một tuyến đường khác nữa nối Kathmandu với Raxaul, một trung tâm đường sắt ở Ấn Độ. Thành phố có một số ngôi chùa với kiến trúc đặc sắc. Ở đây cũng có Đại học Tribhuvan (1959) và Bảo tàng quốc gia Nepal.
Kathmandu được thành lập năm 723 và được dân tộc Newar cai trị trong nhiều thế kỷ. Năm 1768, thành phố này bị Triều Shah chiếm đóng và trở thành kinh đô của họ. Từ 1846 đến 1951, dòng họ hùng mạnh Rana đã cai trị Nepal từ thành phố này.
Lịch sử
Những cuộc khai quật Khảo cổ học ở những bộ phận của Kathmandu đã tìm thấy bằng chứng của những nền văn minh cổ đại. Phát hiện cổ xưa nhất là một bức tượng, được tìm thấy tại Maligaon năm 185 trước Công nguyên. Cuộc khai quật của Dhando Chaitya phát hiện một viên gạch với một dòng chữ Brahmi nguyên bản. Những nhà khảo cổ tin rằng nó đã hai nghìn năm tuổi. Những điêu khắc trên đá là một yếu tố phổ biến tại các địa điểm di sản và là nguồn quan trọng đối với lịch sử của Nepal.
Các tài liệu tham khảo sớm nhất của phương Tây về Kathmandu xuất hiện trong báo cáo của Dòng Tên Fathers Johann Grueber và Albert d'Orville. Năm 1661, họ đi qua Nepal trên đường từ Tây Tạng đến Ấn Độ, và thông báo rằng họ đã đến "Cadmendu, thủ đô của Vương quốc Nepal".
Địa lý
Khí hậu
| Dữ liệu khí hậu của Kathmandu (Sân bay quốc tế Tribhuvan), độ cao 1.337 m (4.386 ft) (1991–2020 normals, extremes 1968–nay) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Cao kỷ lục °C (°F) | 27.4 (81.3) |
29.2 (84.6) |
31.6 (88.9) |
35.6 (96.1) |
36.6 (97.9) |
35.2 (95.4) |
34.6 (94.3) |
32.6 (90.7) |
33.2 (91.8) |
31.9 (89.4) |
30.0 (86.0) |
25.2 (77.4) |
36.6 (97.9) |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 19.2 (66.6) |
22.1 (71.8) |
26.0 (78.8) |
28.6 (83.5) |
29.2 (84.6) |
29.5 (85.1) |
28.7 (83.7) |
29.0 (84.2) |
28.6 (83.5) |
27.2 (81.0) |
23.6 (74.5) |
20.2 (68.4) |
26.0 (78.8) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 11.0 (51.8) |
13.7 (56.7) |
17.4 (63.3) |
20.5 (68.9) |
22.7 (72.9) |
24.4 (75.9) |
24.5 (76.1) |
24.6 (76.3) |
23.7 (74.7) |
20.6 (69.1) |
16.0 (60.8) |
12.2 (54.0) |
19.3 (66.7) |
| Trung bình ngày tối thiểu °C (°F) | 2.8 (37.0) |
5.3 (41.5) |
8.8 (47.8) |
12.3 (54.1) |
16.1 (61.0) |
19.3 (66.7) |
20.3 (68.5) |
20.2 (68.4) |
18.8 (65.8) |
13.9 (57.0) |
8.4 (47.1) |
4.2 (39.6) |
12.5 (54.5) |
| Thấp kỷ lục °C (°F) | −3.5 (25.7) |
−2.4 (27.7) |
0.5 (32.9) |
3.5 (38.3) |
8.7 (47.7) |
11.1 (52.0) |
13.1 (55.6) |
13.0 (55.4) |
11.8 (53.2) |
5.8 (42.4) |
1.3 (34.3) |
−1.9 (28.6) |
−3.5 (25.7) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 15.2 (0.60) |
23.6 (0.93) |
38.0 (1.50) |
62.9 (2.48) |
128.8 (5.07) |
241.4 (9.50) |
384.1 (15.12) |
342.7 (13.49) |
207.8 (8.18) |
43.3 (1.70) |
6.4 (0.25) |
7.8 (0.31) |
1.502 (59.13) |
| Số ngày giáng thủy trung bình (≥ 1.0 mm) | 1.9 | 2.6 | 3.9 | 6.6 | 11.9 | 16.9 | 23.1 | 22.7 | 14.6 | 3.8 | 0.5 | 0.7 | 109.4 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 79 | 71 | 61 | 53 | 57 | 73 | 81 | 83 | 82 | 79 | 85 | 80 | 74 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 210 | 209 | 236 | 230 | 244 | 175 | 130 | 160 | 156 | 233 | 228 | 211 | 2.422 |
| Số giờ nắng trung bình ngày | 6.6 | 7.6 | 7.9 | 7.1 | 7.7 | 5.9 | 3.9 | 4.5 | 5.4 | 6.3 | 7.9 | 6.2 | 6.4 |
| Nguồn 1: World Meteorological Organization | |||||||||||||
| Nguồn 2: Department of Hydrology and Meteorology, Deutscher Wetterdienst (sun 1961–1990, daily sun 1979-1988) | |||||||||||||
Chính trị
Kinh tế
Nhân khẩu
Văn hóa
Ghi chú
- /ˌkætmænˈduː/ ⓘ, tiếng Nepal: काठमाडौँ, Newar: Bản mẫu:Script/Newa / येँ देय्; officially the Kathmandu Metropolitan City (tiếng Nepal: काठमाडौँ महानगरपालिका, Newar: Bản mẫu:Script/Newa / येँ महानगरपालिका). The city is named after the Kasthamandap temple, a 16th-century structure built entirely of wood from a single tree, located in the historic Durbar Square, which itself derives from the Sanskrit words kāṣṭha ("wood") and maṇḍapa ("pavilion").
Nguồn: “Kathmandu” — Wikipedia tiếng Việt, theo giấy phép CC BY-SA 4.0. Cập nhật lần cuối: .
Xem bản gốc