Sử
Sử Việt Niên Biểu
Quay lại dòng thời gianTư liệu Lịch sử — Wikipedia Archive

Nguyễn Đình Chiểu

"Danh nhân Văn hoá Thế giới người Việt Nam"

Nguyễn Đình Chiểu, tục gọi là cụ đồ Chiểu khi dạy học, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ và Hối Trai, là nhà thơ, nhà giáo và thầy thuốc Việt Nam trong nửa sau thế kỷ 19. Trong số các sáng tác của ông có Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu và Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca, cùng thơ Đường luật, văn tế và các tác phẩm gắn với cuộc kháng Pháp ở Nam Kỳ.

Nguyễn Đình Chiểu (chữ Hán: 阮廷炤; 1 tháng 7 năm 1822 – 3 tháng 7 năm 1888), tục gọi là cụ đồ Chiểu khi dạy học, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ và Hối Trai, là nhà thơ, nhà giáo và thầy thuốc Việt Nam trong nửa sau thế kỷ 19. Trong số các sáng tác của ông có Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu và Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca, cùng thơ Đường luật, văn tế và các tác phẩm gắn với cuộc kháng Pháp ở Nam Kỳ.

Xuất thân trong một gia đình nhà nho ở Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu từng học tại Huế và đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định năm 1843. Năm 1848, khi đang ở Huế chờ khoa thi tiếp theo, ông nhận tin mẹ mất, bỏ việc thi cử để trở về Nam chịu tang; trên đường về, ông lâm bệnh rồi bị mù. Sau đó, ông dạy học, hành nghề thuốc và sáng tác. Khi quân Pháp đánh chiếm Gia Định năm 1859, gia đình ông chuyển về Cần Giuộc, rồi đến Ba Tri sau Hòa ước năm 1862. Tại đây, ông tiếp tục dạy học, chữa bệnh và viết thơ văn liên quan đến cuộc kháng chiến của người dân Nam Kỳ, trong đó có các tác phẩm về nghĩa sĩ Cần Giuộc, Trương Định, Phan Tòng và những người tử trận ở Lục tỉnh.

Lục Vân Tiên được lưu truyền rộng rãi ở Nam Bộ và có bản dịch tiếng Pháp từ thế kỷ 19; về sau, tác phẩm được dịch sang nhiều ngôn ngữ và chuyển thể qua tranh, sân khấu, điện ảnh và truyền hình. Hình thức nói thơ Vân Tiên gắn với tác phẩm tiếp tục tồn tại trong đời sống văn hóa Nam Bộ và năm 2025 được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Năm 2021, Đại hội đồng UNESCO thông qua việc cùng Việt Nam kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu trong chương trình kỷ niệm giai đoạn 2022–2023; Mộ và Khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu tại Ba Tri là di tích quốc gia đặc biệt; tên ông được đặt cho nhiều đường phố và trường học.

Cuộc đời

Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ (1 tháng 7 năm 1822). Trần Hữu Chất ghi nơi sinh của ông là quê mẹ ở làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Đặng Văn Tuấn ghi địa danh nơi sinh là thôn Tân Khánh, Gia Định.

Nguyễn Đình Chiểu xuất thân trong gia đình nhà nho. Cha ông là Nguyễn Đình Huy, quê ở làng Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ông Huy có vợ cả là Phan Thị Hữu; hai người có hai người con, một trai và một gái. Khoảng năm 1820, Nguyễn Đình Huy làm thư lại ở Văn hàn ty dưới quyền Tả quân Lê Văn Duyệt. Tại Gia Định, ông có người vợ thứ là Trương Thị Thiệt, người làng Tân Thới. Bà sinh bảy người con, gồm bốn trai và ba gái; Nguyễn Đình Chiểu là con trai đầu lòng.

Học tập và khoa cử

Một lớp học chữ Nho tư gia vào khoảng năm 1895

Thuở bé, Nguyễn Đình Chiểu được mẹ nuôi dạy. Phần tiểu sử trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, dựa vào những ghi chép từ lời kể của con trai ông là Nguyễn Đình Chiêm, cho biết mẹ ông thường kể truyện dân gian và đưa ông đi xem hát ở Vườn Ông Thượng, tức khu vực Tao Đàn ngày nay. Năm lên 6, 7 tuổi, ông theo học với một thầy đồ ở làng. Tư liệu không thống nhất về người thầy này. Đặng Văn Tuấn cho rằng Nguyễn Đình Chiểu học chữ Hán với ông nghè Chiêu, một học trò của Võ Trường Toản; phần tiểu sử trong Toàn tập lại ghi người thầy ở làng là học trò của ông nghè Chiêu, còn ông nghè Chiêu là môn sinh của Võ Trường Toản.

Năm 1832, Tả quân Lê Văn Duyệt mất. Năm sau, con nuôi Tả quân là Lê Văn Khôi nổi dậy, chiếm thành Phiên An ở Gia Định, rồi chiếm cả Nam Kỳ. Trong thời gian biến động năm 1833, cha Nguyễn Đình Chiểu trốn ra Huế và bị cách hết chức tước. Sau đó, ông trở vào Nam, đưa Nguyễn Đình Chiểu ra Huế gửi cho một người bạn để tiếp tục việc học. Người bạn này giữ chức Thái phó ở kinh đô; phần tiểu sử trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập không xác định tên ông. Nguyễn Đình Chiểu sống ở Huế từ năm 1833 đến năm 1840 rồi trở về Gia Định.

Năm Quý Mão (1843), ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định lúc 21 tuổi. Sau khi ông đỗ Tú tài, một gia đình họ Võ khá giả hứa gả con gái cho ông.

Niên đại Nguyễn Đình Chiểu trở lại Huế không thống nhất giữa các nguồn. Cổng thông tin Danh nhân văn hóa Nguyễn Đình Chiểu và tài liệu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Vĩnh Long ghi năm 1846, phần tiểu sử trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập ghi năm 1847, còn VietnamPlus ghi năm 1849. Mục đích chuyến đi cũng được giải thích khác nhau: Cổng thông tin và Toàn tập đặt chuyến đi trong quá trình tiếp tục học, chuẩn bị cho khoa thi năm Kỷ Dậu (1849), trong khi PGS.TS Lê Trung Hoa cho rằng một Tú tài chưa đủ điều kiện dự thi Hội, nên ông ra kinh đô để ôn tập cho kỳ thi Hương tiếp theo.

Mù lòa, dạy học và gia đình

Một chân dung khác của Nguyễn Đình Chiểu, được vẽ với đôi mắt bị mù

Ngày rằm tháng 11 năm Mậu Thân (1848), mẹ Nguyễn Đình Chiểu mất ở Gia Định. Được tin, ông bỏ thi và theo đường bộ trở về Nam chịu tang mẹ. Người em trai đi cùng ông trong chuyến trở về.

Trên đường trở về, đến Quảng Nam, Nguyễn Đình Chiểu bị ốm nặng. Ông ở nhà một thầy thuốc thuộc dòng dõi Ngự y để chữa bệnh và học nghề thuốc; sau đợt bệnh, ông bị mù. Khi dạy học, ông thường được gọi là cụ đồ Chiểu; ông tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ và sau khi bị mù lấy hiệu Hối Trai. Cuộc hôn ước trước đó cũng bị hủy. Sau khi mãn tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu chuyển sang dạy học và hành nghề thuốc. Năm 1851, ông mở trường dạy học ở Bình Vi (Gia Định) và tiếp tục nghiên cứu, bốc thuốc chữa bệnh. Truyện thơ Lục Vân Tiên được hoàn thành trong khoảng 1851–1854.

Năm 1854, Nguyễn Đình Chiểu cưới Lê Thị Điền làm vợ. Bà Điền (1835–1886) là người làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc; trước thuộc Gia Định, nay thuộc tỉnh Tây Ninh. Bà là em gái thứ năm của Lê Tăng Quýnh, học trò ông; Lê Tăng Quýnh đã xin gia đình tác hợp cho hai người.

Nguyễn Đình Chiểu và Lê Thị Điền có bảy người con, gồm bốn trai và ba gái; một người con trai mất khi còn nhỏ. Trong số đó, Sương Nguyệt Anh và Nguyễn Đình Chiêm vừa dạy học, làm thuốc vừa hoạt động văn chương. Sương Nguyệt Anh từng làm chủ bút báo Nữ Giới Chung, còn Nguyễn Đình Chiêm có sáng tác tuồng.

Những năm kháng Pháp và Ba Tri

Năm 1858, quân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng; năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định. Sau khi Gia Định thất thủ, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình lánh về quê vợ ở Thanh Ba (Cần Giuộc). Trong khoảng ba năm từ 1859 đến 1862, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh và sáng tác tại Thanh Ba. Bài thơ "Chạy giặc" được sáng tác trong bối cảnh quân Pháp đánh chiếm Gia Định. Khi rời Gia Định về Cần Giuộc, ông mang theo hài cốt của mẹ và cải táng tại đây.

Tại Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu tham gia kháng chiến và thường bày mưu kế cho Đốc binh Là chống Pháp. Trương Định cũng thường hỏi ý kiến ông về việc binh và cùng ông bàn cách xử trí. Dương Tâm, dẫn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, còn thuật rằng Nguyễn Đình Chiểu bàn việc cứu nước với Phan Văn Trị, Hồ Huân Nghiệp và Bùi Hữu Nghĩa, đồng thời nói Trương Định xem ông như người tham mưu.

Cuối năm 1861, nghĩa quân tập kích đồn Pháp ở Cần Giuộc. Sau trận này, Tuần phủ Gia Định Đỗ Quang giao Bùi Quang Diệu tổ chức lễ tế nghĩa dân; Bùi Quang Diệu nhờ Nguyễn Đình Chiểu soạn Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Trong quãng sống ở Cần Giuộc, chùa Tôn Thạnh, xã Mỹ Lộc, là một địa điểm gắn với việc ông dạy học và bốc thuốc.

Sau Hòa ước Nhâm Tuất 1862, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình rời Cần Giuộc về vùng Ba Tri theo phong trào "tỵ địa", tức tránh sống trong vùng do Pháp chiếm. Địa điểm cư trú cụ thể được các nguồn ghi khác nhau. Đặng Văn Tuấn cho rằng ông về thôn An Bình Đông sau Hòa ước, trong khi tài liệu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Vĩnh Long ghi ông sống tại làng Mỹ Nhơn từ năm 1862 đến năm 1877 rồi mới dời đến An Bình Đông.

Năm 1867, ông cùng một số môn sinh dự lễ di táng phần mộ Võ Trường Toản về Bảo Thạnh, Ba Tri. Tạ Thị Thanh Huyền đặt việc dời mộ này trong bối cảnh một số quan lại và sĩ phu tham gia phong trào tỵ địa sau khi ba tỉnh miền Đông thất thủ. Một giai thoại do Huỳnh Ngọc Trảng ghi lại năm 1984 gắn bài thơ "Từ biệt cố nhân" với thời điểm Nguyễn Đình Chiểu rời Cần Giuộc; các bản công bố trước đó không ghi lý do và thời điểm sáng tác.

Từ năm 1862 đến cuối đời, Nguyễn Đình Chiểu sống ở vùng Ba Tri; quãng cư trú tại Bến Tre của ông kéo dài 26 năm (1862–1888). Tại Ba Tri, ông tiếp tục dạy học, làm thuốc và sáng tác thơ văn chống Pháp. Lời dẫn bản dịch Pháp năm 1887 của Eugène Bajot ghi rằng sau khi định cư ở Ba Tri, Nguyễn Đình Chiểu mở lại trường; học trò tìm đến nghe ông giảng và giải thích các kinh điển. Đặng Văn Tuấn chia hoạt động dạy học của ông thành hai giai đoạn, từ năm 1851 đến đầu tháng 6 năm 1867 và từ cuối tháng 6 năm 1867 đến cuối đời; theo cách phân chia này, ở giai đoạn sau việc dạy học hướng môn sinh tới cách ứng xử trước những thay đổi của thời cuộc.

Chân dung Trương Định

Em trai út của ông, Nguyễn Đình Huân, theo Đốc binh Là chống Pháp và hy sinh tại Cần Giuộc. Tháng 8 năm 1864, thủ lĩnh cuộc kháng chiến chống Pháp ở Gò Công là Trương Định bị thương rồi tuẫn tiết ở Ao Dinh. Sau khi Trương Định qua đời, Nguyễn Đình Chiểu làm một bài văn tế và 12 bài thơ liên hoàn để điếu. Ngoài ra, Nguyễn Đình Chiểu có làm hai bài thơ điếu Phan Thanh Giản, một bài bằng chữ Hán và một bài bằng chữ Nôm.

Năm 1868, thủ lĩnh kháng Pháp ở Ba Tri là Phan Tòng (còn có tên là Phan Ngọc Tòng) hy sinh. Nguyễn Đình Chiểu làm một chùm thơ điếu Phan Tòng.

Niên đại cuộc gặp giữa Nguyễn Đình Chiểu và Michel Ponchon, chủ tỉnh Bến Tre, được các nguồn ghi khác nhau. Phan Văn Hùm, dẫn lời Nguyễn Đình Chiêm, không xác định được ngày gặp đầu tiên và chỉ ước đoán khoảng năm 1884. Theo tường thuật này, Ponchon nhờ Nguyễn Đình Chiểu nhuận chính Lục Vân Tiên; các đề nghị về đất đai và tiền dưỡng lão trong những lần gặp sau đều bị ông từ chối. Nguyễn Quảng Tuân, dựa trên tư liệu của Ponchon, xác định cuộc thăm viếng diễn ra ngày 17 tháng 11 năm 1883 và cho biết Ponchon mang tới một bản Lục Vân Tiên chữ Nôm in ở Trung Quốc để Nguyễn Đình Chiểu nghe đọc và chỉ ra những câu cần bỏ, sửa hoặc bổ sung.

Phần khảo cứu trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập lại đọc ngày 17 tháng 11 năm 1883 là ngày của số báo L'Indépendant de Saigon thuật lại sự việc và chỉ đặt cuộc thăm vào ít lâu trước đó. Lời dẫn năm 1887 của Bajot ghi riêng việc nhà chức trách đề nghị cấp tiền dưỡng lão và việc Nguyễn Đình Chiểu từ chối khoản trợ cấp này. Một truyền thuật khác được David G. Marr dẫn lại cho rằng Nguyễn Đình Chiểu xúc động mạnh khi nghe tin về Chiếu Cần Vương năm 1885.

Qua đời

Mộ Nguyễn Đình Chiểu (trái), mộ vợ ông (phải), phía xa là mộ Sương Nguyệt Anh và đền thờ của ông

Năm 1886, vợ ông là Lê Thị Điền mất lúc 51 tuổi. Ngày 24 tháng 5 năm Mậu Tý (3 tháng 7 năm 1888), Nguyễn Đình Chiểu qua đời tại làng An Bình Đông, gần chợ Ba Tri, thọ 66 tuổi.

Mộ Nguyễn Đình Chiểu hiện nằm cạnh mộ vợ Lê Thị Điền trong khu mộ gia đình; khu mộ thuộc Di tích quốc gia đặc biệt Mộ và Khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu tại ấp Giồng Cục, xã Ba Tri, tỉnh Vĩnh Long.

Sáng tác

Nguyễn Đình Chiểu để lại ba truyện thơ Nôm dài là Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu, Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca, thơ Đường luật, văn tế và các tác phẩm gắn với cuộc kháng Pháp. Lê Văn Lan chia sự nghiệp sáng tác của ông thành hai giai đoạn: những năm 1850, gắn với Lục Vân Tiên và Dương Từ – Hà Mậu; và từ năm 1859 đến cuối đời, khi thơ và văn tế chống Pháp giữ vị trí nổi bật.

Phần Phàm lệ của Nguyễn Đình Chiểu toàn tập còn ghi nhận một số tác phẩm từng được các nguồn cũ quy cho Nguyễn Đình Chiểu. Trương Vĩnh Ký năm 1889 nói ông có soạn Tứ thư, Ngũ kinh và Gia huấn ca; Phan Văn Hùm năm 1952 dẫn lời Nguyễn Văn Trị về Tam thập lục nan, Hứa hiền mạch phú và Lư sơn mạch phú. Tuy nhiên, nhóm biên soạn Toàn tập cho biết từ cuối thế kỷ 19 đến khi họ khảo sát không tìm thấy thêm tư liệu xác nhận những tác phẩm này, nên việc quy các tác phẩm này cho ông vẫn chưa chắc chắn.

Lục Vân Tiên

Bìa truyện Lục Vân Tiên in năm 1874

Lục Vân Tiên là truyện thơ Nôm được hoàn thành trong khoảng 1851–1854. Phần khảo cứu văn bản trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (1997) đặt quá trình sáng tác từ khoảng năm 1850 trở đi và cho rằng tác phẩm trước hết được hình thành trong trí nhớ của Nguyễn Đình Chiểu, sau đó được ông đọc cho một học trò thân cận chép lại và tiếp tục sửa chữa. Tác phẩm dài hơn 2.000 câu lục bát, xoay quanh Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga. Trong tiến trình truyện, Vân Tiên gặp nhiều biến cố sau khi nghe tin mẹ mất, bị mù, hôn ước tan vỡ và rơi vào những tình thế nguy hiểm trước khi đoàn tụ với Nguyệt Nga. Đoàn Lê Giang xem quan hệ giữa hai nhân vật này như một biểu hiện của tình nghĩa và đạo nghĩa trong cấu trúc đạo đức của tác phẩm.

Phạm Văn Phúc cho rằng hệ thống nhân vật của Lục Vân Tiên được tổ chức khá rõ theo hai tuyến thiện – ác, chính – tà; các nhân vật còn được bố trí thành những cặp đối lập, trong đó Lục Vân Tiên giữ vị trí trung tâm. Về ngôn ngữ, Vũ Đình Liên nhấn mạnh việc Nguyễn Đình Chiểu đưa tiếng nói thông thường của nhân dân vào thơ, đồng thời lưu ý một số đoạn trong Lục Vân Tiên tập trung nhiều điển tích. Ông cũng nhận xét truyện có một phần tính chất tự thuật vì có những điểm tương tự giữa cuộc đời Lục Vân Tiên và Nguyễn Đình Chiểu, nhưng không xem tác phẩm chỉ là sự kể lại đời tư của tác giả.

Lịch sử văn bản Lục Vân Tiên gồm nhiều nhánh Nôm và Quốc ngữ. Nguyễn Quảng Tuân xác định bản Duy Minh Thị – Quảng Thạnh Nam được khắc ở Quảng Đông; Đoàn Lê Giang xếp bản Bảo Hoa Các – Quảng Thạnh Nam năm 1865 vào hệ phồn bản Duy Minh Thị và xem đây là bản Nôm khắc in sớm nhất còn biết. Phần khảo cứu năm 1997 ghi một bản được xuất bản tại Sài Gòn vào giữa năm 1867 rồi in lại ở Paris năm 1873. Đoàn Lê Giang xác định bản Janneau 1873 tại Paris là bản phiên âm Quốc ngữ đầu tiên và xếp nó cùng bản Abel des Michels 1883 và Trương Vĩnh Ký 1889 vào nhóm giản bản Nam. Bản Trương Vĩnh Ký gồm 2.076 câu và trở thành một truyền bản quan trọng của hệ bản trong Nam. Ở nhánh truyền ra Bắc, các khảo cứu ghi nhận một hệ bản từ Lăng Vân Đường năm 1886 đến Tụ Văn Đường, Liễu Văn Đường và Phúc Văn Đường.

Dương Từ – Hà Mậu và Ngư Tiều

Dương Từ – Hà Mậu là truyện thơ Nôm dài 3.456 câu lục bát, xen 33 bài thơ, câu đối và văn tế. Các chứng bản được khảo cứu gồm bản Nôm của Nhiêu Cơ Lê Quang Thịnh, bản Quách Đăng Vân chép năm 1884 và bản do Phan Văn Hùm sao lục, hiệu đính, được Nhà xuất bản Tân Việt xuất bản năm 1964. Nhóm biên soạn Nguyễn Đình Chiểu toàn tập dùng bản Quách Đăng Vân làm cơ sở phiên âm và đối chiếu với bản Tân Việt khi khảo đính. Trong giai đoạn dạy học ở Bình Vi (1850–1858), Nguyễn Đình Chiểu bắt đầu sáng tác Dương Từ – Hà Mậu. Phần biên khảo trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập cho rằng tác phẩm có thể được soạn từ năm 1851 và hoàn chỉnh trước khi thành Gia Định thất thủ. Còn Đặng Văn Tuấn đặt thời điểm sáng tác vào khoảng năm 1854.

Dương Từ theo Phật giáo, Hà Mậu theo Công giáo; hai nhân vật được Lão Nhan Tử Thất dẫn qua các cảnh thiên đường và địa ngục rồi quyết theo Nho đạo. Phạm Văn Phúc xem tiến trình truyện là hành trình hai nhân vật đi tìm và nhận thức về Đạo; khác với mô hình chính – tà tương đối cố định trong Lục Vân Tiên, tính cách và số phận của họ có sự vận động theo hành trình ấy. Hoàng Thị Cương đọc tác phẩm như một nỗ lực bảo vệ Nho giáo trước các tôn giáo khác, đặc biệt là Công giáo.

Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca (còn gọi là Ngư tiều y thuật vấn đáp) vừa triển khai truyện thơ vừa đưa vào tri thức y học. Về niên đại sáng tác, Đặng Văn Tuấn đặt tác phẩm vào khoảng năm 1867, phần biên khảo trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập cũng cho rằng tác phẩm có lẽ được sáng tác khoảng năm 1867 sau khi Nguyễn Đình Chiểu về Ba Tri, trong khi Cổng thông tin Danh nhân văn hóa Nguyễn Đình Chiểu ghi từ sau 1874. Bản Nguyễn Đình Chiểu toàn tập dùng trong so sánh có 3.642 câu, còn bản Long An năm 1982 có 3.644 câu. Tạ Thị Thanh Huyền đọc Kỳ Nhân Sư như một kiểu ẩn sĩ: nhân vật tự làm mù mắt để từ chối sự chiêu dụng của một chính quyền ngoại tộc, nhưng vẫn tiếp tục cứu người bằng y thuật; theo bà, hành động này biểu hiện sự không hợp tác mà không từ bỏ lý tưởng cứu đời.

Tác phẩm đồng thời được biên soạn như một sách dạy nghề thuốc và chữa bệnh. Phần y học bao quát các nguyên lý về cơ thể, vận khí và mạch học, cùng những nội dung về dược liệu, châm cứu, bệnh học, dưỡng sinh và y đức. Nguyễn Thị Dương cho rằng Nguyễn Đình Chiểu tiếp thu các y thư có chọn lọc và diễn lại nhiều tri thức bằng chữ Nôm, thơ lục bát để dễ tiếp nhận; phần cuối tác phẩm đồng thời phê phán lối hành nghề máy móc hoặc trái đạo đức nghề nghiệp.

Trong hai truyện thơ sau Lục Vân Tiên, giữa mạch lục bát có các bài thơ được gán cho nhân vật. Dương Từ – Hà Mậu có các bài bát cú, tứ tuyệt, song thất, liễn đối và văn tế bằng chữ Nôm; Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca có loại thơ này bằng cả chữ Nôm lẫn chữ Hán. Phạm Văn Phúc gọi nhóm bài này là "thơ dẫn" để phân biệt với những bài thơ độc lập của Nguyễn Đình Chiểu. Ông cũng phân biệt cách tổ chức nhân vật của hai truyện này với Lục Vân Tiên: Dương Từ, Hà Mậu cùng các nhân vật Ngư, Tiều không được chia thành hai tuyến cố định và có sự vận động về tính cách, số phận, nhưng Phạm Văn Phúc vẫn giới hạn nhận định này, không xem họ là những nhân vật đa diện theo nghĩa của tự sự hiện đại.

Văn tế và thơ chống Pháp

Một số thơ và văn tế của Nguyễn Đình Chiểu trong giai đoạn chống Pháp gồm:

  • Chạy giặc (1859)
  • Từ biệt cố nhân
  • Tế Cần Giuộc sĩ dân trận vong văn (tức Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, 1861)
  • Mười hai bài thơ và bài văn tế Tướng quân Trương Định (1864)
  • Thơ điếu Đông các Đại học sĩ Phan Thanh Giản (2 bài)
  • Thơ điếu Ba Tri Đốc binh Phan Tòng (1868)
  • Lục tỉnh sĩ dân trận vong văn (Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh). Đặng Văn Tuấn, dẫn một tài liệu xuất bản năm 1988, ghi tác phẩm được sáng tác năm 1874 và lễ tế tại chợ Ba Tri được tổ chức năm 1884. Trần Thị Hoa Lê đặt thời điểm sáng tác vào khoảng năm 1883. Cổng thông tin Danh nhân văn hóa Nguyễn Đình Chiểu lại ghi tác phẩm được đọc tại lễ tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh ở chợ Ba Tri năm 1883; phần tiểu sử trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập cũng đặt lễ tế này vào năm 1883.

Một số tác phẩm khác chưa xác định chắc thời điểm sáng tác gồm:

  • Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây
  • Thảo thử hịch (Hịch đánh chuột)
  • Ngóng gió đông
Chùa Tôn Thạnh ở Cần Giuộc
Chùa Tôn Thạnh ở Cần Giuộc. Trần Nguyên Anh cho đây là địa điểm Nguyễn Đình Chiểu soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc gắn với trận nghĩa quân tập kích đồn Pháp ở Cần Giuộc cuối năm 1861. Tuần phủ Đỗ Quang giao Bùi Quang Diệu tổ chức lễ tế nghĩa dân; Bùi Quang Diệu sau đó nhờ Nguyễn Đình Chiểu soạn bài văn tế trong thời gian ông ở gần chùa Tôn Thạnh. Bài văn tế gồm 29 câu, một số bản chép 30 câu, và dùng lối độc vận.

Trần Thị Hoa Lê cho rằng theo bố cục thông thường, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc có thể chia thành bốn phần lung khởi, thích thực, ai vãn và kết, nhưng ranh giới giữa phần thích thực và ai vãn không hoàn toàn rạch ròi. Trong cách đọc của bà, kết cấu và ngôn từ tác phẩm tập trung vào hình tượng "lòng dân", đưa những người nông dân không thuộc quân chính quy vào vị trí chủ thể chiến đấu và đan xen sắc thái hùng tráng với đau thương. Lời khóc thương cùng những hình ảnh về dân chúng, mẹ già và vợ yếu được đặt xen vào phần hồi tưởng về thân phận và hành động của người nghĩa binh, thay vì tách thành những khối hoàn toàn riêng biệt. Khi đối chiếu với văn học chống ngoại xâm trung đại trước đó, Trần Thị Hoa Lê nhấn mạnh đây là lần đầu những người dân nghèo chân đất, áo vải hiện lên như những anh hùng cứu nước cụ thể, có thân phận, cảm xúc và suy nghĩ, thay vì chỉ được nhắc đến như một khái niệm tập thể. Montira Rato xem Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tác phẩm đầu tiên của văn học viết Việt Nam đặt người nông dân vào vị trí nhân vật chính.

Nguyễn Ngọc Phú phân tích mảng thơ chống Pháp của Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu qua thơ Nôm luật Đường, đặc biệt là thất ngôn bát cú; trong khảo sát của ông, các bài điếu Trương Định, Phan Tòng và Phan Thanh Giản được đặt trong hệ hình thể hiện "con người trung nghĩa".

Tư tưởng và nghệ thuật

Quan niệm văn chương và vị trí văn học sử

Lê Chí Dũng xem sáng tác Nguyễn Đình Chiểu là một hình thức "văn chương chính đạo", dùng việc nêu gương, khen và chê để giáo huấn; ông khái quát quan niệm ấy bằng công thức "chở đạo, sửa đời, dạy người" và cho rằng Nguyễn Đình Chiểu tiếp nhận Nho giáo có chọn lọc, nhấn mạnh các phương diện nhân chính, khoan dân, huệ dân và an dân. Hoàng Thị Cương cũng đặt tác gia trong khung văn dĩ tải đạo và thi ngôn chí, với các chủ đề vệ đạo, bảo dân, trung quân, ái quốc xuyên suốt cách đọc của bà.

Ở bình diện thi pháp truyện thơ, Phạm Văn Phúc nhận xét Lục Vân Tiên tổ chức nhân vật theo hai tuyến thiện – ác, chính – tà và nhiều cặp đối lập, trong đó phẩm chất đạo đức là trục cơ bản của hệ thống nhân vật. Một hướng nghiên cứu khác của Đỗ Thu Hiền đọc Kiều Nguyệt Nga như hình mẫu phụ nữ lý tưởng theo Nho giáo, gắn với hệ chuẩn mực tam tòng, tứ đức của xã hội đương thời.

Khi bàn về sáng tác chống Pháp, Rato dẫn Lê Ngọc Trà cho rằng trong bối cảnh chống ngoại xâm, văn chương của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ giáo huấn mà còn hướng tới việc huy động quần chúng. Đàm Anh Thư nhận xét Nguyễn Đình Chiểu vẫn chú trọng chức năng "chở đạo", đặt văn chương trước những vấn đề "nghĩa nước, tình nhà" và "trừ bạo, đâm gian", nhưng việc biểu hiện tình cảm đối với đạo lý lại mạnh mẽ. Bà xem sắc thái bi tráng trong các bài văn tế là một biểu hiện cho thấy sáng tác của ông không hoàn toàn tuân theo yêu cầu tiết chế cảm xúc của văn học Nho gia chính thống.

Trần Ngọc Vương đặt Nguyễn Đình Chiểu ở một vị trí chuyển tiếp của văn học sử. Theo ông, Nguyễn Đình Chiểu thuộc nhóm tác giả khép lại một giai đoạn gắn với bảo vệ và thực hành Nho giáo, đồng thời mở đầu, ở một phương diện, cho trào lưu văn học chống ngoại xâm qua hình tượng người nghĩa binh vô danh. Trong cùng cách nhìn, ông xem việc Nguyễn Đình Chiểu trở về sống và sáng tác ở Nam Bộ như một điểm giao thoa mới giữa văn học dân gian và văn học bác học thông qua thể loại truyện Nôm. Hoàng Thị Cương ghi nhận một hướng nghiên cứu đặt Lục Vân Tiên trong tương quan với các truyện Nôm khác và dẫn Kiều Thu Hoạch xếp tác phẩm vào loại truyện Nôm bình dân.

Trong bối cảnh rộng hơn, Đoàn Lê Giang liệt kê Nguyễn Đình Chiểu trong nhóm tác giả Hán Nôm tiêu biểu của Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX. David G. Marr xem ông là gương mặt văn chương chống khuynh hướng cộng tác được biết đến nhiều nhất ở miền Nam và nhấn mạnh sự lưu truyền rộng của thơ Nôm chống xâm lược, phần lớn qua truyền miệng. Nguyễn Khắc Viện và nhóm biên soạn tuyển tập Văn học Việt Nam (Anthologie de la littérature vietnamienne) cũng đặt sáng tác của ông trong dòng văn học yêu nước phát triển cùng phong trào kháng Pháp do tầng lớp sĩ phu truyền thống dẫn dắt.

Ngôn ngữ và giọng điệu

Nguyễn Thạch Giang khảo sát ngôn ngữ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu qua các trường từ ngữ về cuộc đời, con người và hoàn cảnh xã hội. Ông chú ý cả lớp từ gắn với đời sống thường ngày, ăn mặc và sinh hoạt lẫn lớp biểu đạt có tính ước lệ, đồng thời xem việc lựa chọn từ ngữ và sắc thái của chúng trong từng văn cảnh là một thành phần của hình tượng nghệ thuật.

Riêng ở mảng văn tế, Lê Dương Khắc Minh xác định ngôn ngữ đời thường là một đặc trưng nghệ thuật, thể hiện ở việc sử dụng phương ngữ, khẩu ngữ Nam Bộ và các quan hệ từ; theo ông, những yếu tố này làm câu văn gần lời nói hằng ngày hơn và góp phần Việt hóa, bình dân hóa thể văn tế trung đại. Về giọng điệu, Trần Ngọc Vương nhận xét Nguyễn Đình Chiểu làm cho giọng bi ai vốn có của văn tế chuyển động cùng lời ca bi tráng, âm hưởng chiến trận và suy tư về giang sơn, đất nước; Đàm Anh Thư cũng nhấn mạnh sự kết hợp giữa chất hào hùng và cảm xúc đau đớn trong các bài văn tế chống Pháp.

Tiếp nhận và ảnh hưởng

Lịch sử nghiên cứu

Việc phiên âm, dịch và xuất bản Lục Vân Tiên đã diễn ra từ thế kỷ XIX. Gabriel Aubaret công bố bản dịch tiếng Pháp năm 1864; Janneau cho in bản phiên âm Quốc ngữ kèm chú giải tiếng Pháp năm 1873; Abel des Michels xuất bản bản chữ Nôm, Quốc ngữ và dịch Pháp năm 1883. Năm 1882, khi bàn lịch sử văn bản và các dị bản của truyện, E. Villard từng nêu nghi vấn về tác quyền Lục Vân Tiên, theo ghi nhận của Nguyễn Quảng Tuân. Năm 1887, bản dịch Pháp của Eugène Bajot xuất bản tại Paris kèm phần "Tiểu sử Nguyễn Đình Chiểu" (Notice biographique de Nguyen Dinh Chieu). Ghi chú cuối mục tiểu sử của Bajot cho biết ông viết thư hỏi Nguyễn Đình Chiểu vì gặp thông tin mâu thuẫn và soạn tiểu sử dựa trên hồi đáp do một người con của ông gửi lại. Năm 1889, Trương Vĩnh Ký cho in Poèmes populaires annamites tại Sài Gòn, trong đó tập đầu là Lục Vân Tiên.

Hoàng Thị Cương khảo sát lịch sử nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu từ cuối thế kỷ XIX và cho rằng cách tiếp cận tác gia thay đổi đáng kể theo từng giai đoạn. Trước năm 1945, Nỗi lòng Đồ Chiểu của Phan Văn Hùm được Tân Việt xuất bản lần đầu năm 1938. Trần Thị Mỹ Hiền đánh giá Phan Văn Hùm có đóng góp về sưu tầm, văn bản, niên đại, chú giải và phê bình đối với Nguyễn Đình Chiểu.

Trong giai đoạn 1954–1975, bài "Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc" của Phạm Văn Đồng được viết nhân kỷ niệm 75 năm ngày mất Nguyễn Đình Chiểu và đăng trên Tạp chí Văn học tháng 7 năm 1963. Hoàng Thị Cương phân biệt hai môi trường nghiên cứu: ở miền Bắc, Nguyễn Đình Chiểu thường được đặt trong khung nhà thơ yêu nước và người nghệ sĩ gắn với nhiệm vụ xã hội; trong các đô thị miền Nam, các văn học sử của Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng và những ấn phẩm nhân lễ kỷ niệm năm 1971 tạo nên một hướng tiếp nhận khác.

Sau năm 1975, nghiên cứu mở rộng ở các hướng văn học sử, văn bản học và thi pháp học; Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (1980–1982) và chuyên luận của Nguyễn Phong Nam năm 1997 là hai mốc được Hoàng Thị Cương nêu trong tổng thuật. Bà cũng cho rằng điều kiện tiếp cận thông tin hạn chế khiến Nguyễn Đình Chiểu hiểu không chính xác một số vấn đề về Công giáo trong Dương Từ – Hà Mậu, làm cho một số lập luận tôn giáo của tác phẩm thiếu sức thuyết phục. Trong lịch sử tiếp nhận muộn hơn, Hoàng Thị Cương ghi nhận một cuộc tranh luận trên tạp chí Văn Học (xuất bản ở California, Hoa Kỳ ) năm 1998 xoay quanh Lục Vân Tiên và hệ giá trị Nho giáo gắn với tác giả.

Trong đời sống văn hóa

Lục Vân Tiên được truyền tụng rộng rãi ở Nam Bộ và gắn với hình thức nói thơ Vân Tiên, tức lối kể hoặc đọc truyện thơ Nôm thành tiếng cho người nghe. Trong lời dẫn bản dịch Pháp năm 1887, Eugène Bajot ghi rằng truyện từ trường học lan sang các làng, được học thuộc, ngâm đọc và trình diễn bởi những người hát rong. Theo Quyết định số 2200/QĐ-BVHTTDL ngày 27 tháng 6 năm 2025, "Nghệ thuật trình diễn dân gian Nói thơ Vân Tiên, tỉnh Bến Tre" được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Sự tiếp nhận Lục Vân Tiên còn hiện diện ngoài Nam Bộ: ca dao, dân ca miền Trung nhắc đến nhiều nhân vật trong truyện, còn ở miền Bắc lưu hai tranh khắc gỗ dân gian theo phong cách tranh Đông Hồ. Tác phẩm cũng được chuyển thể qua tranh, sân khấu, điện ảnh và truyền hình. Bộ Vân Tiên cổ tích truyện ở Huế có 1.200 tranh màu do Lê Đức Trạch thực hiện trong khoảng 1895–1897; năm 1924, Lâm Hoài Nghĩa chuyển một số đoạn thành các lớp cải lương, còn một số kịch bản về sau tổ chức lại cốt truyện để phù hợp với cấu trúc sân khấu. Các bản phim và truyền hình tiếp tục quá trình chuyển thể này trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI. Tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc sớm có tiếng vang ngoài Nam Bộ; bài văn tế được truyền ra Huế và Mai Am, Tùng Thiện Vương đều có thơ ghi cảm tưởng khi đọc tác phẩm.

Từ thế kỷ XIX, Lục Vân Tiên đã được dịch ra tiếng nước ngoài; Gabriel Aubaret công bố bản dịch tiếng Pháp năm 1864. Tác phẩm về sau có bản dịch bằng năm ngôn ngữ gồm tiếng Pháp, Ukraina, Nhật, Anh và Hàn. Bản dịch tiếng Hàn do Jeon Hye Kyeong và Lý Xuân Chung thực hiện được xuất bản lần đầu tại Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc ở Seoul năm 2017; Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản bản dịch này năm 2022.

Vinh danh và tưởng niệm

Lăng Nguyễn Đình Chiểu ở Ba Tri (Bến Tre cũ)

Năm 1965, Hội Văn nghệ Giải phóng Miền Nam lập Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu dành cho các tác giả, tác phẩm nổi bật trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật ở miền Nam. Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 27 tháng 4 năm 1990. Sau đó, khu này tiếp tục được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2499/QĐ-TTg ngày 22 tháng 12 năm 2016.

Tên Nguyễn Đình Chiểu được đặt cho nhiều đường phố và trường học. Một trường hợp tiêu biểu là Trường Phổ thông cơ sở Nguyễn Đình Chiểu tại Hà Nội, thành lập tháng 12 năm 1982 với nhiệm vụ ban đầu là giáo dục trẻ em khiếm thị.

Ngày 23 tháng 11 năm 2021, Đại hội đồng UNESCO tại Paris thông qua quyết định để UNESCO cùng tham gia kỷ niệm ngày sinh, ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu và Hồ Xuân Hương. Nguyễn Đình Chiểu thuộc nhóm nhân vật được UNESCO tham gia kỷ niệm trong giai đoạn 2022–2023, với năm 2022 là dịp 200 năm ngày sinh ông. Dịp này, ngày 29 tháng 6 năm 2022, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức hội thảo khoa học quốc tế "Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu trong thời đại ngày nay"; lễ kỷ niệm 200 năm ngày sinh được tổ chức ngày hôm sau tại Mộ và Khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Ba Tri.

Nguồn: “Nguyễn Đình Chiểu” — Wikipedia tiếng Việt, theo giấy phép CC BY-SA 4.0. Cập nhật lần cuối: .

Xem bản gốc