Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển và miền núi nằm ở phía bắc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, miền Trung Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là phường Cẩm Thành, cách Thành phố Hồ Chí Minh 820 km về phía bắc, cách thành phố Đà Nẵng 130 km về phía nam và cách Thủ đô Hà Nội 908 km về phía nam tính theo đường Quốc lộ 1.
Quảng Ngãi
"tỉnh ven biển và miền núi thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên của Việt Nam"
Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển và miền núi nằm ở phía bắc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, miền Trung Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là phường Cẩm Thành, cách Thành phố Hồ Chí Minh 820 km về phía bắc, cách thành phố Đà Nẵng 130 km về phía nam và cách Thủ đô Hà Nội 908 km về phía nam tính theo đường Quốc lộ 1.
Theo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Quảng Ngãi có diện tích: 14.833 km², xếp thứ 5; dân số: 2.161.755 người, xếp thứ 22; GRDP 2024: 173.526.456 triệu VNĐ, xếp thứ 24; thu ngân sách 2024: 33.685.093 triệu VNĐ, xếp thứ 13; thu nhập bình quân: 49,53 triệu VNĐ/năm, xếp thứ 24.
Quảng Ngãi có đường bờ biển dài khoảng 129 km với vùng lãnh hải rộng lớn 11.000 km2 và 6 cửa biển vốn giàu nguồn lực hải sản với nhiều bãi biển đẹp. Quảng Ngãi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Nam Trung Bộ được Chính phủ chọn khu vực Dung Quất (Bình Sơn - Quảng Ngãi) để xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam. Tỉnh được tái lập vào ngày 1 tháng 7 năm 1989 trên cơ sở tách tỉnh Nghĩa Bình thành 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định.
Địa lý
Vị trí địa lý
Tỉnh Quảng Ngãi trải dài từ 14°32′B đến 15°25′B, từ 108°06′Đ đến 109°04′Đ, tựa vào dãy núi Trường Sơn và có vị trí địa lý:
- Phía đông giáp Biển Đông
- Phía tây giáp các tỉnh Sekong, Attapeu (Lào) và tỉnh Ratanakiri (Campuchia)
- Phía nam giáp tỉnh Gia Lai
- Phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng.
Nằm ở vị trí trung độ của cả nước, Quảng Ngãi cách thủ đô Hà Nội 884 km về phía Bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh 836 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1.
Các điểm cực của tỉnh Quảng Ngãi
- Điểm cực đông tại đảo Lý Sơn, đặc khu Lý Sơn.
- Điểm cực tây tại Ia Đal.
- Điểm cực nam tại xã Ia Tơi.
- Điểm cực bắc tại hòn Bé, đặc khu Lý Sơn.
- Điểm đặt tại trung tâm nhất tại xã Sơn Linh.
Điều kiện tự nhiên
Tỉnh Quảng Ngãi hiện nay được thành lập ngày 1 tháng 7 năm 2025 trên cơ sở sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Kon Tum vào tỉnh Quảng Ngãi cũ. Sau sắp xếp, tỉnh có diện tích tự nhiên 14.832,55 km² và quy mô dân số 2.161.755 người, là tỉnh có diện tích lớn thứ năm cả nước.
Theo dự thảo Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh, phía bắc tỉnh giáp thành phố Đà Nẵng; phía nam giáp tỉnh Gia Lai; phía tây giáp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia; phía đông giáp Biển Đông. Đây là một trong số ít tỉnh của Việt Nam vừa có biên giới trên bộ với hai quốc gia, vừa có bờ biển và hải đảo.
Địa hình của tỉnh phức tạp và thấp dần theo hướng từ tây sang đông, tạo thành ba bậc kế tiếp nhau. Phía tây là vùng núi cao và cao nguyên thuộc địa bàn Kon Tum cũ cùng dải sườn đông Trường Sơn. Khu vực này có khối núi Ngọc Linh với đỉnh cao khoảng 2.600 m, điểm cao nhất của tỉnh và của cả vùng Nam Trung Bộ – Tây Nguyên. Đây cũng là vùng phân bố tự nhiên của sâm Ngọc Linh. Ở giữa là vùng đồi núi thấp và trung du chuyển tiếp, gồm các địa bàn miền núi phía tây tỉnh Quảng Ngãi cũ như Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ, nối với các vùng Kon Plông, Kon Rẫy của Kon Tum cũ. Phía đông là dải đồng bằng ven biển hẹp, được bồi đắp bởi phù sa của các sông ngắn và dốc chảy từ Trường Sơn xuống biển. Ngoài khơi là đảo Lý Sơn, hòn đảo có nguồn gốc núi lửa và là đơn vị hành chính hải đảo của tỉnh.
Tỉnh có khí hậu nhiệt đới gió mùa, song phân hóa thành hai vùng rõ nét do ảnh hưởng của dãy Trường Sơn. Vùng tây Trường Sơn có địa hình núi cao nên khí hậu mát mẻ, thích hợp với cây dược liệu và cây trồng ôn đới; tiêu biểu là khu vực Măng Đen, nơi được ví như một Đà Lạt thứ hai với khí hậu mát mẻ quanh năm và hệ sinh thái rừng phong phú. Vùng đông Trường Sơn mang khí hậu nóng ẩm, mưa mùa, thuận lợi cho phát triển cây lâm nghiệp.
Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Khu vực ven biển của tỉnh nằm trong vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới.
| Dữ liệu khí hậu của Phường Cẩm Thành | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Cao kỷ lục °C (°F) | 33.6 (92.5) |
35.3 (95.5) |
37.6 (99.7) |
39.4 (102.9) |
39.5 (103.1) |
41.4 (106.5) |
40.3 (104.5) |
40.3 (104.5) |
39.0 (102.2) |
34.6 (94.3) |
33.7 (92.7) |
32.1 (89.8) |
41.4 (106.5) |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 25.7 (78.3) |
27.1 (80.8) |
29.5 (85.1) |
31.9 (89.4) |
33.6 (92.5) |
34.2 (93.6) |
34.4 (93.9) |
34.2 (93.6) |
32.0 (89.6) |
29.6 (85.3) |
27.4 (81.3) |
25.3 (77.5) |
30.4 (86.7) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 19.6 (67.3) |
20.4 (68.7) |
22.3 (72.1) |
24.6 (76.3) |
26.3 (79.3) |
26.9 (80.4) |
26.9 (80.4) |
26.6 (79.9) |
25.2 (77.4) |
23.7 (74.7) |
22.0 (71.6) |
20.2 (68.4) |
23.7 (74.7) |
| Trung bình ngày tối thiểu °C (°F) | 15.2 (59.4) |
15.7 (60.3) |
17.1 (62.8) |
19.1 (66.4) |
20.7 (69.3) |
21.2 (70.2) |
20.9 (69.6) |
20.9 (69.6) |
20.1 (68.2) |
19.2 (66.6) |
17.8 (64.0) |
15.9 (60.6) |
18.6 (65.5) |
| Thấp kỷ lục °C (°F) | 8.4 (47.1) |
10.1 (50.2) |
9.4 (48.9) |
13.3 (55.9) |
15.6 (60.1) |
16.0 (60.8) |
17.1 (62.8) |
16.0 (60.8) |
16.6 (61.9) |
13.0 (55.4) |
11.5 (52.7) |
8.9 (48.0) |
8.4 (47.1) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 123 (4.8) |
41 (1.6) |
38 (1.5) |
49 (1.9) |
99 (3.9) |
110 (4.3) |
92 (3.6) |
126 (5.0) |
303 (11.9) |
639 (25.2) |
563 (22.2) |
284 (11.2) |
2.466 (97.1) |
| Số ngày giáng thủy trung bình | 14.8 | 8.4 | 5.5 | 5.8 | 9.7 | 8.9 | 9.9 | 12.2 | 16.4 | 20.7 | 22.2 | 21.5 | 156.2 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 87.5 | 86.6 | 85.2 | 83.3 | 81.1 | 79.7 | 79.1 | 80.3 | 84.7 | 87.6 | 88.4 | 88.5 | 84.3 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 125 | 154 | 209 | 231 | 259 | 237 | 251 | 232 | 193 | 157 | 111 | 90 | 2.248 |
| Nguồn: Vietnam Institute for Building Science and Technology | |||||||||||||
| Dữ liệu khí hậu của Phường Kon Tum | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Cao kỷ lục °C (°F) | 33.9 (93.0) |
36.2 (97.2) |
37.1 (98.8) |
37.9 (100.2) |
39.0 (102.2) |
35.6 (96.1) |
33.7 (92.7) |
33.5 (92.3) |
32.6 (90.7) |
33.5 (92.3) |
33.0 (91.4) |
32.8 (91.0) |
39.0 (102.2) |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 28.0 (82.4) |
30.2 (86.4) |
32.5 (90.5) |
33.1 (91.6) |
31.5 (88.7) |
29.5 (85.1) |
28.9 (84.0) |
28.7 (83.7) |
28.9 (84.0) |
28.8 (83.8) |
27.7 (81.9) |
26.8 (80.2) |
29.6 (85.3) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 20.6 (69.1) |
22.4 (72.3) |
24.5 (76.1) |
25.7 (78.3) |
25.3 (77.5) |
24.8 (76.6) |
24.3 (75.7) |
24.1 (75.4) |
23.9 (75.0) |
23.4 (74.1) |
22.2 (72.0) |
20.7 (69.3) |
23.5 (74.3) |
| Trung bình ngày tối thiểu °C (°F) | 14.5 (58.1) |
16.3 (61.3) |
18.6 (65.5) |
20.9 (69.6) |
21.8 (71.2) |
21.9 (71.4) |
21.6 (70.9) |
21.5 (70.7) |
21.0 (69.8) |
19.6 (67.3) |
17.7 (63.9) |
15.5 (59.9) |
19.2 (66.6) |
| Thấp kỷ lục °C (°F) | 5.5 (41.9) |
7.9 (46.2) |
8.7 (47.7) |
15.5 (59.9) |
18.0 (64.4) |
18.8 (65.8) |
18.1 (64.6) |
18.0 (64.4) |
16.3 (61.3) |
11.9 (53.4) |
8.9 (48.0) |
5.9 (42.6) |
5.5 (41.9) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 1 (0.0) |
10 (0.4) |
28 (1.1) |
93 (3.7) |
220 (8.7) |
259 (10.2) |
293 (11.5) |
325 (12.8) |
295 (11.6) |
177 (7.0) |
62 (2.4) |
9 (0.4) |
1.771 (69.7) |
| Số ngày giáng thủy trung bình | 0.4 | 1.2 | 4.0 | 9.8 | 18.5 | 21.2 | 23.8 | 25.8 | 22.7 | 14.1 | 6.0 | 1.2 | 148.2 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 71.6 | 68.0 | 68.0 | 72.9 | 80.0 | 85.2 | 86.2 | 87.8 | 86.9 | 82.6 | 77.7 | 73.8 | 78.4 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 267 | 248 | 271 | 231 | 197 | 148 | 134 | 129 | 122 | 179 | 208 | 241 | 2.374 |
| Nguồn: Vietnam Institute for Building Science and Technology | |||||||||||||
Lịch sử
Thời nhà Lê

Năm 1471, quân Đại Việt lấy lại Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, chiếm kinh đô Chà Bàn (nay thuộc tỉnh Bình Định) của Vương quốc Chămpa. Tháng 6 âm lịch, thiết lập đạo thừa tuyên Quảng Nam (nay là các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và thành phố Đà Nẵng), gồm 3 phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhân. Tỉnh Quảng Ngãi thuộc Phủ Tư Nghĩa.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Lê, lập nên nhà Mạc.
Năm 1533, Nguyễn Kim nổi lên chống nhà Mạc, tôn Lê Ninh lên làm vua, lấy hiệu là vua Lê Trang Tông, hình thành cục diện Nam- Bắc triều.
Năm 1545, Tướng của Nguyễn Kim là Bùi Tá Hán được giao nhiệm vụ trấn thủ Quảng Nam (nay là vùng đất thuộc các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và thành phố Đà Nẵng).
Năm 1558, Nguyễn Hoàng nhận nhiệm vụ trấn thủ Thuận Hóa.
Năm 1602, Trấn Quảng Nam đổi thành dinh Quảng Nam, phủ Tư Nghĩa (thuộc dinh Quảng Nam) đổi thành phủ Quảng Nghĩa (Ngãi) (danh xưng Quảng Nghĩa (Ngãi) lần đầu tiên xuất hiện, phủ Quảng Nghĩa nay là tỉnh Quảng Ngãi).
Năm 1771, Khởi nghĩa Tây Sơn. Năm 1776, Nhà Tây Sơn đổi tên phủ Quảng Nghĩa thành phủ Hòa Nghĩa.
Năm 1803, Nhà Nguyễn đổi phủ Hòa Nghĩa trở lại tên cũ là phủ Quảng Nghĩa.
Năm 1807, Xã Cù Mông (sau đổi là xã Chánh Mông rồi Chánh Lộ) được chọn làm nơi xây dựng tỉnh Quảng Ngãi.
Năm 1831, Tỉnh Quảng Ngãi được thành lập. Cả nước lúc này có 30 tỉnh và 1 phủ (kinh đô Thừa Thiên).
Năm 1831, Lấy kinh sư (Thừa Thiên) làm trung tâm, triều đình nhà Nguyễn chia cả nước thành các trực kỳ trong đó tả trực gồm 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi.
Năm 1884, với 2 hiệp ước Quý Mùi và Giáp Thân, nước Việt Nam, trong đó có tỉnh Quảng Ngãi, đã trở thành thuộc địa của Pháp.
Từ thời các chúa Nguyễn (lúc còn là cấp phủ) đến thời nhà Nguyễn độc lập (thời đã là tỉnh Quảng Ngãi), thì Quảng Ngãi luôn là địa phương quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (thời đó còn chưa được phân biệt rõ ràng và trực thuộc huyện Bình Sơn Quảng Ngãi), bằng các đội Hoàng Sa và Bắc Hải.
Thế kỷ 20

Từ năm 1909 (thời M. Dodey làm công sứ Quảng Ngãi từ 1907 - 1912) đến cuối của triều Nguyễn (1945) miền Trung châu Quảng Ngãi được chia thành 4 phủ là Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa và Mộ Đức, 2 huyện Nghĩa Hành, Đức Phổ gồm 21 tổng, 403 làng. Miền thượng được chia thành 4 nha gồm Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long và Ba Tơ với 27 tổng, 199 "nóc". Từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 đến 19 tháng 8 năm 1945, tổ chức hành chánh ít thay đổi, nhưng thay đổi trên danh từ Tuần vũ gọi là tỉnh trưởng (lúc này gồm Bửu Trưng, Lê Văn Định), ở huyện gọi là huyện trưởng, chức Chánh, Phó sứ thời Pháp do một cơ quan hiến binh Nhật đảm trách.
Thời kỳ đầu của cuộc tổng khởi nghĩa toàn dân năm 1945, tỉnh Quảng Ngãi được đổi tên là tỉnh Lê Trung Đình, phủ Tư Nghĩa đổi thành phủ Nguyễn Thụy (Sụy), xã Chánh Lộ lấy tên xã Nguyễn Viện v.v... Về tổ chức, lập liên xã, bỏ các làng cũ. Nhưng, sau một thời gian thay danh hiệu tỉnh, huyện, tổng, xã đều lấy lại tên cũ. Các phủ, huyện, nha trong tỉnh đều gọi tên thống nhất là huyện, gồm tất cả 10 huyện, tổng, 124 liên xã. Đảo Lý Sơn nhập vào huyện Bình Sơn nhưng năm 1952 bị quân Pháp chiếm đóng sáp nhập hải đảo vào thị xã Đà Nẵng.
Dưới thời Việt Nam Cộng hòa
| Dân số tỉnh Quảng Ngãi 1967 | |
|---|---|
| Quận | Dân số |
| Ba Tơ | 10.194 |
| Bình Sơn | 110.579 |
| Đức Phổ | 93.300 |
| Minh Long | 5.392 |
| Mộ Đức | 60.086 |
| Nghĩa Hành | 49.961 |
| Sơn Hà | 19.946 |
| Sơn Tịnh | 122.423 |
| Trà Bồng | 9.478 |
| Tư Nghĩa | 119.124 |
| Tổng số | 600.483 |
Từ 26 tháng 6 năm 1954 đến năm 1971, tỉnh Quảng Ngãi được chia thành 10 quận gồm Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ, Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ. Số xã trong toàn tỉnh có thay đổi, năm 1968 có 158 xã, năm 1970 theo sự sáp nhập của Bộ Nội vụ 122 xã, 319 ấp.
1975–nay
Ngày 24 tháng 3 năm 1975, tỉnh lỵ Quảng Ngãi và các huyện Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ được giải phóng. Ngày 29 tháng 3 năm 1975, tiếp tục giải phóng các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh. Ngày 31 tháng 3 năm 1975, đảo Lý Sơn nay là huyện Lý Sơn cũng giải phóng.
Tỉnh Nghĩa Bình
Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc:
- Hợp nhất tỉnh Bình Định và tỉnh Quảng Ngãi thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Hợp nhất tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
Đồng thời, thị xã Quảng Ngãi hợp nhất với huyện Tư Nghĩa thành thị xã Quảng Nghĩa, hai huyện Nghĩa Hành và Minh Long hợp nhất thành huyện Nghĩa Minh.
Ngày 24 tháng 2 năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Nghị định số 3/NQ/1976 về việc:
- Thành lập tỉnh Gia Lai – Kon Tum trên cơ sở hợp nhất tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Thành lập tỉnh Nghĩa Bình trên cơ sở hợp nhất tỉnh Bình Định và tỉnh Quảng Ngãi, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
Lúc này, địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cũ có thị xã Quảng Nghĩa và 8 huyện: Ba Tơ, Bình Sơn, Đức Phổ, Mộ Đức, Nghĩa Minh, Sơn Hà, Sơn Tịnh, Trà Bồng.
Ngày 24 tháng 8 năm 1981, chia thị xã Quảng Nghĩa thành thị xã Quảng Ngãi và huyện Tư Nghĩa, chia lại huyện Nghĩa Minh thành hai huyện Nghĩa Hành và Minh Long.
Tái lập tỉnh Quảng Ngãi

Ngày 30 tháng 6 năm 1989, Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc chia tỉnh Nghĩa Bình thành tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Bình Định.
Khi tách ra, tỉnh Quảng Ngãi có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm thị xã Quảng Ngãi và 10 huyện: Ba Tơ, Bình Sơn, Đức Phổ, Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Sơn Hà, Sơn Tịnh, Trà Bồng, Tư Nghĩa.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc chia tỉnh Gia Lai – Kon Tum thành tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum.
Ngày 1 tháng 1 năm 1993, thành lập huyện đảo Lý Sơn trên cơ sở tách 2 xã thuộc huyện Bình Sơn.
Ngày 6 tháng 8 năm 1994, chia huyện Sơn Hà thành hai huyện Sơn Hà và Sơn Tây.
Ngày 1 tháng 12 năm 2003, chia huyện Trà Bồng thành hai huyện Trà Bồng và Tây Trà.
Ngày 26 tháng 8 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định 112/2005/NĐ-CP chuyển thị xã Quảng Ngãi thành thành phố Quảng Ngãi.
Ngày 24 tháng 9 năm 2015, thành phố Quảng Ngãi được công nhận là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày 1 tháng 2 năm 2020, chuyển huyện Đức Phổ thành thị xã Đức Phổ; sáp nhập huyện Tây Trà vào huyện Trà Bồng.
Từ đó, tỉnh Quảng Ngãi có 1 thành phố Quảng Ngãi (tỉnh lỵ), 1 thị xã Đức Phổ và 11 huyện: Ba Tơ, Bình Sơn, Lý Sơn, Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Sơn Hà, Sơn Tây, Sơn Tịnh, Trà Bồng, Tư Nghĩa.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 12 tháng 6 năm 2025). Theo đó, sáp nhập tỉnh Kon Tum vào tỉnh Quảng Ngãi.
Sau khi sáp nhập, tỉnh Quảng Ngãi có 14.832,55 km² diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 2.161.755 người.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025:
- Quốc hội ban hành Nghị quyết số 203/2025/QH15 về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo đó, kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện trong cả nước từ ngày 1 tháng 7 năm 2025.
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1677/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Quảng Ngãi năm 2025 (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 16 tháng 6 năm 2025).
Tỉnh Quảng Ngãi có 96 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 9 phường, 86 xã và 1 đặc khu.
Hành chính
Tỉnh Quảng Ngãi có 96 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 9 phường, 86 xã và 1 đặc khu.
| Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Quảng Ngãi | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
|
|
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Kinh tế
Tỉnh Quảng Ngãi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung được Chính phủ chọn khu vực Dung Quất để xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của cả nước, góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Năm 2025, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh ước đạt 92.348,1 tỷ đồng theo giá so sánh 2010, tăng 10,02% so với năm trước. Đây là mức tăng cao nhất trong vòng 5 năm tính theo đơn vị hành chính mới. Xét theo khu vực, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 15.193,4 tỷ đồng, tăng 3,56% và đóng góp 0,62 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Khu vực công nghiệp – xây dựng ước đạt 36.883,3 tỷ đồng, tăng 14,85% và đóng góp 5,68 điểm phần trăm; trong đó riêng công nghiệp đạt 30.392,3 tỷ đồng, tăng 17,83% và đóng góp 5,48 điểm phần trăm. Khu vực dịch vụ đạt 28.342 tỷ đồng, tăng 7,88% và đóng góp 2,47 điểm phần trăm. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 11.929,3 tỷ đồng, tăng 9,69%.
Quy mô nền kinh tế tỉnh năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 191.612,3 tỷ đồng. Trong đó khu vực công nghiệp – xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất với 78.818,3 tỷ đồng, tương đương 41,13%; riêng công nghiệp đạt 66.999,1 tỷ đồng, chiếm 34,97%. Khu vực dịch vụ đạt 55.757,7 tỷ đồng, chiếm 29,10%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 32.956,9 tỷ đồng, chiếm 17,20%.
Công nghiệp
Công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế tỉnh Quảng Ngãi. Cơ cấu công nghiệp của tỉnh tập trung cao vào hai ngành là lọc hóa dầu và luyện kim, cả hai đều đặt tại Khu kinh tế Dung Quất. Năm 2025, sản lượng lọc dầu đạt 7,92 triệu tấn, vượt 13% kế hoạch năm nhờ Nhà máy lọc dầu Dung Quất vận hành liên tục ở công suất cao. Ngành luyện kim phát triển mạnh với sản lượng thép đạt 7,158 triệu tấn, tăng 34,9%, nhờ dự án Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất 2 đi vào hoạt động và cung ứng sản phẩm thép cuộn cán nóng cho thị trường. Đây là loại sản phẩm có giá trị cao hơn thép thông thường.
Năm 2025, một số ngành công nghiệp cấp 2 đạt mức tăng trưởng khá cao, gồm dệt tăng 23,31%, chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 28,92%, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 28,83%. Ở chiều ngược lại, ngành sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 21,7%. Một số ngành khác cũng giảm do tác động từ chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ.
Khu kinh tế Dung Quất là hạt nhân công nghiệp của tỉnh và của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, với các dự án quy mô lớn trong lĩnh vực lọc hóa dầu, luyện kim, cơ khí, công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng và logistics. Cảng Dung Quất là cảng biển loại I quốc gia, diện tích hơn 1.000 ha, độ sâu 21 m và không phụ thuộc thủy triều. Kim ngạch xuất khẩu của khu kinh tế tăng từ 22,3 triệu USD năm 2004 lên khoảng 2,525 tỷ USD năm 2025. Sản lượng hàng hóa thông qua cảng tăng từ 7,48 triệu tấn năm 2010 lên 55,76 triệu tấn năm 2025. Giai đoạn 2005–2025, tổng thu ngân sách nhà nước từ các doanh nghiệp trong khu kinh tế đạt khoảng 302.219 tỷ đồng, tạo việc làm cho khoảng 81.800 lao động.
Ngoài khu kinh tế, tỉnh còn có các khu công nghiệp, trong đó Khu công nghiệp – đô thị – dịch vụ VSIP Quảng Ngãi là dự án hợp tác giữa Việt Nam và Singapore.
Hạn chế lớn nhất của công nghiệp Quảng Ngãi là mức độ phụ thuộc cao vào hai ngành chủ lực. Trong năm tháng đầu năm 2026, sản xuất kim loại tăng 52,5% và lọc hóa dầu tăng 10,4% so với cùng kỳ, đưa chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành đạt 12,76%, thấp hơn mục tiêu 17,52% đề ra. Nếu loại trừ hai ngành thép và lọc hóa dầu, sản xuất công nghiệp của tỉnh chỉ tăng khoảng 2,63%.
Nông, lâm nghiệp và thủy sản

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 17,19% GRDP của tỉnh Quảng Ngãi năm 2025, giảm so với mức 19,53% năm 2020. Giá trị tăng thêm của khu vực này theo giá so sánh 2010 đạt khoảng 15.408,93 tỷ đồng, vượt 4,57% so với kế hoạch; giá trị sản xuất toàn ngành đạt trên 31.200 tỷ đồng. Điều kiện tự nhiên đa dạng cho phép tỉnh phát triển nông nghiệp theo từng vùng sinh thái. Vùng miền núi phù hợp với cây dược liệu và kinh tế rừng; vùng đồng bằng phát triển lúa chất lượng cao và rau màu; vùng ven biển phát triển khai thác và nuôi trồng thủy sản.
Diện tích lúa năm 2025 đạt gần 96.000 ha, năng suất bình quân khoảng 60 tạ/ha và tỷ lệ sử dụng giống xác nhận đạt từ 70 đến 80%. Tỉnh đặt mục tiêu giữ sản lượng lúa ổn định ở mức 300.000 đến 350.000 tấn mỗi năm, đồng thời phát triển các giống cây trồng chịu hạn, chịu mặn.
Sau khi sáp nhập tỉnh Kon Tum, cây dược liệu trở thành thế mạnh riêng của Quảng Ngãi. Diện tích trồng sâm Ngọc Linh đạt hơn 3.200 ha và đẳng sâm gần 4.700 ha, từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung. Theo báo cáo tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, diện tích trồng sâm Ngọc Linh dưới tán rừng đã đạt hơn 4.000 ha. Tỉnh xác định định hướng xây dựng vùng dược liệu trọng điểm quốc gia.

Đến năm 2025, toàn tỉnh có khoảng 247 trang trại chăn nuôi và tổng đàn lợn đạt trên 612.000 con; sản lượng thịt hơi tăng trên 21% so với năm 2021. Trong năm 2025, dịch tả lợn châu Phi bùng phát ở các xã thuộc khu vực phía đông của tỉnh; sang sáu tháng đầu năm 2026, chăn nuôi lợn dần phục hồi, trong khi đàn trâu, bò tiếp tục giảm do hiệu quả kinh tế không cao.
Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp của tỉnh duy trì trên 966.000 ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt khoảng 59,5%. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được triển khai hiệu quả, với tổng nguồn thu gần 2.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2021–2025. Diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp là 1.065.379 ha và diện tích đất có rừng đạt 893.046 ha, được xem là nguồn lực để phát triển kinh tế rừng, du lịch sinh thái, dịch vụ môi trường rừng và thị trường carbon rừng.
Tổng sản lượng thủy sản năm 2025 đạt trên 300.000 tấn. Cơ cấu khai thác được điều chỉnh theo hướng giảm dần các nghề ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản, đồng thời phát triển nuôi trồng những đối tượng có giá trị kinh tế cao.
Sau khi hợp nhất, cơ cấu nông sản của tỉnh Quảng Ngãi phân hóa rõ theo hai vùng. Vùng phía tây, tức địa bàn Kon Tum cũ, mạnh về cây công nghiệp dài ngày và cây dược liệu, với cà phê, cao su, sâm Ngọc Linh và đẳng sâm. Vùng phía đông, tức địa bàn Quảng Ngãi cũ, mạnh về lúa, mía, rau màu, cây nguyên liệu giấy và thủy sản. Nhiều đặc sản của tỉnh đã được bảo hộ nhãn hiệu gắn với địa danh, tiêu biểu là quế Trà Bồng, tỏi Lý Sơn, cá bống sông Trà, mạch nha Mộ Đức.
Thương mại và dịch vụ
Khu vực dịch vụ chiếm 29,10% GRDP tỉnh Quảng Ngãi năm 2025, với giá trị theo giá hiện hành đạt 55.757,7 tỷ đồng. Tính theo giá so sánh 2010, khu vực này tăng 7,88% và đóng góp 2,47 điểm phần trăm vào mức tăng chung của nền kinh tế. Giai đoạn 2020–2025, khu vực dịch vụ tăng trưởng bình quân 6,05% mỗi năm.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 đạt 126.305 tỷ đồng, tăng bình quân 10,6% mỗi năm trong giai đoạn 2020–2025. Sáu tháng đầu năm 2026, chỉ tiêu này ước đạt 73.824 tỷ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 57.912 tỷ đồng, tăng 14,8%; dịch vụ ăn uống đạt 10.228 tỷ đồng, tăng 17,6%; dịch vụ tiêu dùng khác đạt 5.154 tỷ đồng, tăng 17,6%; dịch vụ lưu trú đạt 488 tỷ đồng, tăng 25,2%; dịch vụ du lịch lữ hành đạt 42 tỷ đồng, tăng 30,3%. Mức tăng cao này có phần đóng góp của nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch quy mô lớn diễn ra trên địa bàn.
Sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh vượt 2 tỷ USD, tăng 37% so với cùng kỳ. Doanh thu vận tải tăng hơn 42%. Thu ngân sách nhà nước đạt hơn 19.000 tỷ đồng, tăng 12,9%. Riêng Khu kinh tế Dung Quất, kim ngạch xuất khẩu tăng từ 22,3 triệu USD năm 2004 lên khoảng 2,525 tỷ USD năm 2025. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của tỉnh gồm sắt thép, bông, sợi, vải và nguyên phụ liệu.
Du lịch được xác định là một trong những trụ cột quan trọng, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới. Năm 2025, tỉnh đón khoảng 4,9 triệu lượt khách với tổng doanh thu ước đạt 2.640 tỷ đồng. Sau khi sáp nhập, tỉnh hình thành hai trung tâm du lịch có vị thế khác biệt nhưng bổ trợ cho nhau là Măng Đen ở phía tây và Lý Sơn ở phía đông. Tỉnh đã triển khai chủ trương phát triển Lý Sơn thành trung tâm du lịch biển – đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời quy hoạch khu du lịch Măng Đen theo hướng bài bản để thu hút đầu tư.
Giáo dục

Năm học 2025–2026, toàn tỉnh Quảng Ngãi có 959 cơ sở giáo dục, gồm 339 trường mầm non, 225 trường tiểu học, 171 trường trung học cơ sở, 118 trường tiểu học và trung học cơ sở, 64 trường trung học phổ thông, Trường Mầm non – Tiểu học Việt Úc, Trường Liên cấp thành phố giáo dục quốc tế IEC Quảng Ngãi, 2 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập, 2 trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh, 12 trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên, 5 trường trung cấp, 6 trường cao đẳng và 13 cơ sở tham gia đào tạo giáo dục nghề nghiệp. Tổng số học sinh, học viên và sinh viên toàn tỉnh là 474.535 người, với 16.185 lớp học. Tổng số cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên và nhân viên là 32.818 người.
Trong năm 2025, tỉnh tổ chức kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2025–2026 và kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025. Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 98,41%, xếp thứ 19 trong 34 tỉnh, thành phố, với điểm trung bình 5,89 điểm. Tại kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm học 2024–2025, tỉnh có 88 học sinh đạt giải. Tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp đạt 99,9%; việc tổ chức dạy học hai buổi mỗi ngày và tổ chức bán trú cho trẻ được triển khai bằng nhiều hình thức.
Tỷ lệ kiên cố hóa trường lớp và tỷ lệ đáp ứng thiết bị giáo dục tối thiểu của tỉnh còn thấp so với yêu cầu.
Đến cuối năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đạt 63,97%, trong đó lao động có bằng cấp, chứng chỉ chiếm 24,89%. Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động là 41,23%.
Tỉnh có 2 trường THPT chuyên là Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Khiết và Trường Trung học phổ thông chuyên Nguyễn Tất Thành (thuộc tỉnh Kon Tum cũ).
Hệ thống giáo dục Đại học của tỉnh Quảng Ngãi bao gồm:
- Trường Đại học Phạm Văn Đồng (thuộc UBND tỉnh Quảng Ngãi);
- Trường Đại học Tài chính – Marketing phân hiệu Quảng Ngãi (thuộc Bộ Tài chính);
- Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh phân hiệu Quảng Ngãi (thuộc Bộ Công Thương).
Các Trường Cao đẳng bao gồm:
- Trường Cao đẳng Y tế Đặng Thùy Trâm;
- Trường Cao đẳng Công nghệ Dung Quất;
- Trường Cao đẳng Việt - Hàn;
- Trường Cao đẳng Quảng Ngãi;
- Trường Cao đẳng nghề Cơ giới;
- Trường Cao đẳng Công thương Thành phố Hồ Chí Minh chi nhánh Quảng Ngãi.
Y tế
Năm 2025, tỉnh Quảng Ngãi đạt 10,2 bác sĩ trên một vạn dân, vượt 0,9% kế hoạch. Số giường bệnh trên một vạn dân (không tính giường trạm y tế xã) đạt 35,35 giường. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 95,17% dân số. Cơ sở vật chất và trang thiết bị tại một số cơ sở y tế còn thiếu; tình trạng quá tải ở một số bệnh viện tuyến tỉnh vẫn còn xảy ra. Nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao còn thiếu so với nhu cầu. Tỷ lệ bác sĩ trên một vạn dân và tỷ lệ giường bệnh trên một vạn dân của tỉnh còn thấp so với bình quân cả nước.
Ẩm thực
Các đặc sản, ẩm thực địa phương như: hải sản, bánh tráng Phú Châu, tỏi Lý Sơn, kẹo gương Thu Xà, cá bống sông Trà, thịt trâu nấu xà bần H'rê Ba Tơ, bún tươi Phú Mỹ, hường Tây Trà, kiệu muối, rượu cần miền Tây, ốc tượng ốc cừ Lý Sơn, bánh thuẫn Đức Thạnh, xoài cơm Quảng Ngãi, gỏi bòng bong, bánh xèo Đức Phổ, bò hít, quế Trà Bồng, thịt heo ky, bánh nổ Nghĩa Trung, chè Lộc Thạnh, ram thịt nướng, bánh mè Trì Bình, bánh mè giòn Mộ Đức, don Quảng Ngãi, cau Sơn Tây, nước mắm Đức Lợi, mít hông, gỏi tỏi Lý Sơn, gừng gió Trà Bồng, cá tào lao Quảng Ngãi, lợn Kiềng Sắt, cúm núm Sa Huỳnh, bún cá ngừ um, dưa hấu Bình Sơn, mạch nha Thi Phổ, đường phèn, đường muỗng, trâu xào lá xưng Ba Tơ, bánh lá đót Trà Bồng, cá niên miền Tây, ớt xiêm rừng Sơn Hà, chim mía Quảng Ngãi, bánh bèo, chè xanh Minh Long, xu xoa Lý Sơn, măng rừng, bánh bó Quảng Ngãi, mắm nhum Sa Huỳnh, nòng nọc Ba Tơ, ram bắp, hồ tiêu Ba Lế, chả cá Định Tân, gỏi cá cơm Quảng Ngãi, bánh ít lá gai Lý Sơn, gà re Ba Tơ, sùng đất, nếp ngự Sa Huỳnh, rau ranh nấu ốc đá miền Tây, chuối ngự Hành Tín Đông, sâm cau Sơn Tây, chạch chát Ba Tơ, hến kình sông Thoa, gỏi cá trích Đức Minh.
Dân số

|
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Nguồn: Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê - Bộ Tài chính | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Theo kết quả điều tra dân số giữa kỳ năm 2024, dân số tỉnh Quảng Ngãi tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2024 là 1.256.952 người.Lỗi chú thích: Tham số "ref" không hợp lệ trong thẻ <ref>. Các tham số được hỗ trợ là: details, dir, follow, group, name.
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2024 (trước sáp nhập), tỉnh Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên 5.155,25 km², quy mô dân số là 1.532.488 người, với mật độ dân số là 297 người/km².
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2024 (sau sáp nhập), tỉnh Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên 14.832,55 km², quy mô dân số là 2.161.755 người, trong đó dân số thành thị ước tính đạt khoảng 432.209 người chiếm (19,99%), dân số nông thôn ước tính đạt khoảng 1.729.546 người chiếm (80,01%), với mật độ dân số là 145 người/km². Tỷ lệ đô thị hóa tính đến năm 2026 đạt 31,8%.
Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Quảng Ngãi có 29 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống, trong đó dân tộc Việt chiếm đông nhất với 1.055.154 người, thứ hai là người Hrê với 115.268 người, thứ ba là người Co với 28.110 người, người Xơ Đăng có 17.713 người, cùng với các dân tộc ít người khác như Hoa, Mường, Tày, Thái...
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh Quảng Ngãi có 10 tôn giáo khác nhau chiếm 70.454 người, trong đó nhiều nhất là Đạo Tin Lành có 31.996 người, Phật giáo với 23.220 người, Công giáo có 9.226 người, Đạo Cao Đài có 6.000 người, còn lại các tôn giáo khác như Hồi giáo, Phật giáo Hòa Hảo mỗi đạo có ba người, Bà la môn và Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam mỗi đạo có hai người, ít nhất là Bửu sơn kỳ hương và Bahá'í mỗi đạo có một người.
| Dân tộc | Thành phần dân tộc tỉnh Quảng Ngãi và Kon Tum năm 2019. | |||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Quảng Ngãi | Kon Tum | Tổng cộng | ||||
| Dân số | % | Dân số | % | Dân số | % | |
| Toàn tỉnh | 1.231.697 | 100% | 540.438 | 100% | 1.772.135 | 100% |
| Kinh | 1.044.607 | 84,81% | 243.572 | 45,07% | 1.288.179 | 72,69% |
| Xơ Đăng | 19.690 | 1,60% | 133.117 | 24,63% | 152.807 | 8,62% |
| Hrê | 133.103 | 10,81% | 2.810 | 0,52% | 135.913 | 7,67% |
| Ba Na | 43 | / | 68.799 | 12,73% | 68.842 | 3,88% |
| Giẻ Triêng | 16 | / | 39.515 | 7,31% | 39.531 | 2,23% |
| Co | 33.227 | 2,70% | 183 | / | 33.410 | 1,89% |
| Gia Rai | 58 | / | 25.883 | 4,79% | 25.941 | 1,46% |
| Thái | 140 | / | 8.905 | 1,65% | 9.045 | 0,51% |
| Mường | 213 | / | 8.114 | 1,50% | 8.327 | 0,47% |
| Tày | 132 | / | 3.552 | 0,66% | 3.684 | 0,21% |
| Nùng | 36 | / | 2.830 | 0,52% | 2.866 | 0,16% |
Văn hóa

Quảng Ngãi là mảnh đất có bề dày lịch sử về Văn hóa Sa Huỳnh và Văn hóa Chăm Pa, đặc biệt là hệ thống thành lũy Chàm. Bên cạnh đó là hai danh thắng nổi tiếng là "núi Ấn sông Trà". Quảng Ngãi là quê hương của Tả Tướng Lê Văn Duyệt, người đã 2 lần làm Tổng Trấn Thành - Gia Định; Anh hùng Dân tộc Trương Định, Trương Đăng Quế, Bạch Văn Vĩnh, Lê Trung Đình; nhiều nhà trí thức, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, nghệ sĩ tên tuổi: Nguyễn Vĩ, Bích Khê,Thanh Thảo, Tế Hanh, Trà Giang, Trương Quang Lục, Thế Bảo, Nhất Sinh; Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng; các vị tướng trong Quân đội Nhân dân Việt Nam như: Trung tướng Phạm Kiệt, Thượng tướng Trần Văn Trà, Nguyễn Chánh, Thiếu tướng Võ Bẩm, Huỳnh Thị Cúc, Nguyễn Thị Dung...
Các Lễ hội gồm Lễ hội nghinh cá Ông, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa (Lý Sơn), Lễ hội đâm trâu, Lễ hội cầu ngư, Lễ hội đua thuyền truyền thống...
Ngày 29 tháng 12 năm 2022, Thủ tướng Chính phủ công nhận Di tích khảo cổ Văn hóa Sa Huỳnh là di tích quốc gia đặc biệt. Quần thể gồm sáu địa điểm là di tích Long Thạnh, di tích Thạnh Đức, di tích Phú Khương, quần thể di tích Chăm Pa trong không gian Sa Huỳnh, đầm An Khê, lạch An Khê, sông Cửa Lỗ.
Trước khi sáp nhập, địa bàn Quảng Ngãi cũ có 6 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, gồm Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, Lễ hội đua thuyền Tứ Linh, Lễ hội điện Trường Bà, nghệ thuật cồng chiêng của dân tộc Cor, nghề dệt thổ cẩm truyền thống và nghệ thuật trình diễn chiêng Ba của người H'rê. Trong đó, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn là lễ hội mang tính đặc trưng riêng có của đảo này, vừa góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vừa giáo dục truyền thống tự tôn dân tộc.
Trong năm 2025, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố thêm hai di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của tỉnh là nghệ thuật Cà Đáo và Tết ngã rạ, còn gọi là Sa Ní, của người Cor. Ngày 5 tháng 3 năm 2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký bốn quyết định công nhận thêm bốn di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của tỉnh, gồm Lễ hội cầu mưa của người H'rê tại xã Ba Động, Lễ hội cầu ngư ở Sa Huỳnh tại phường Sa Huỳnh, nghề dệt của người Gié – Triêng tại các xã Đăk Môn, Đăk Pék, Đăk Plô và Dục Nông, cùng Lễ ăn than của người Gié – Triêng.
Ngoài ra, nghệ thuật bài chòi Trung Bộ Việt Nam, di sản được UNESCO ghi danh, cũng được thực hành trên địa bàn tỉnh.
Năm 2025, tỉnh triển khai các hoạt động bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống và nghề dệt thủ công truyền thống của các dân tộc thiểu số trên địa bàn Kon Tum cũ, đồng thời khảo sát, kiểm kê và tư liệu hóa di sản văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số ở khu vực Kon Plông. Tỉnh cũng nghiên cứu hồ sơ di tích lịch sử Ngục Đăk Glei để đề nghị xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, và hoàn thiện hồ sơ khoa học đề nghị công nhận Đại Hồng Chung, còn gọi là chuông U Minh, thuộc di tích lịch sử chùa Tổ đình Bác Ái, là bảo vật quốc gia. Cũng trong năm 2025, danh lam thắng cảnh cổng Tò Vò ở Lý Sơn đã được xếp hạng di tích quốc gia.
Hình ảnh
Danh nhân
- Chính khách: Phạm Văn Đồng, Trương Định, Lê Văn Duyệt, Trần Đức Lương, Nguyễn Thị Diệu, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Bá Loan
- Doanh nhân: Nguyễn Văn Đạt, Cao Thị Ngọc Dung
- Giáo dục: Lê Vinh Danh, Phan Kỳ Phùng
- Tôn giáo: Thích Nhất Hạnh, Thanh Hải (nhà truyền giáo)
- Thể thao: Hoàng Văn Phúc, Nguyễn Trần Duy Nhất, Phạm Thị Bình, Phan Thanh Hậu, Ngô Bông
- Nghệ sĩ: Dương Ngọc Thái, Thanh Tuấn
- Nhạc sĩ: Trương Quang Lục, Hồng Xương Long
- Tướng lĩnh: Nguyễn Chánh (Quảng Ngãi), Trần Văn Trà, Lê Văn Xuân, Trần Quý Hai, Phạm Kiệt, Võ Thứ, Nguyễn Đôn, Tiêu Văn Mẫn, Trịnh Lương Hy, Võ Bẩm, Trần Tiến Cung, Huỳnh Kim, Châu Khải Định, Lê Trung Ngôn, Phạm Quang Tiệp, Trần Nam Trung, Trần Quang Phương, Nguyễn Văn Được, Võ Thị Thái, Vũ Xuân Viên, Huỳnh Thị Cúc, Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Tăng Long, Nguyễn Văn Xuân (tướng nhà Nguyễn)
Du lịch

Quảng Ngãi là vùng đất có bề dày lịch sử với nền văn hoá lâu đời như khu du lịch văn hoá Sa Huỳnh, dấu vết văn hoá cổ xưa như thành cổ Châu Sa, Gò Vàng..., có di tích lịch sử Ba Tơ, Sơn Mỹ, Ba Gia, Trà Bồng, Vạn Tường, nhiều cảnh đẹp như Thiên Ấn Niêm Hà, Thiên Bút Phê Vân, Thạch Bích Tà Dương, Cổ Luỹ Cô Thôn, Nước Trong – Cà Đam..., nhiều bãi biển như Mỹ Khê, Sa Huỳnh,... những tiềm năng trên là điều kiện để phát triển du lịch nghỉ dưỡng với nhiều loại hình, sản phẩm du lịch đa dạng.
Năm 2015 nhà đầu tư Vingroup đầu tư Trung tâm Thương mại Vincom tại Thành phố Quảng Ngãi nay đã hoàn thành. Năm 2019, nhà đầu tư FLC đã khởi công xây Khu nghỉ dưỡng vùng đất ven biển xã Bình Phú, Bình Châu, huyện Bình Sơn. Dự án này của FLC hiện nay đang bị UBND Tỉnh Quảng Ngãi tiến hành thu hồi.
Ngày 23/06/2022, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức lễ công bố biểu trưng (logo) du lịch Quảng Ngãi. Bộ nhận diện thương hiệu du lịch Quảng Ngãi với khẩu hiệu thương hiệu (Tagline) "KHÁM PHÁ QUẢNG NGÃI" - "EXPLORE QUANG NGAI" cùng với hình ảnh đặc trưng du lịch Quảng Ngãi là đảo Lý Sơn và Văn hóa Sa Huỳnh được xây dựng nhằm tạo ra nhận biết về thương hiệu du lịch Quảng Ngãi; tạo ra tương tác, trải nghiệm của du lịch Quảng Ngãi với các nhóm khách hàng mục tiêu trên nhiều nền tảng, nhiều hoạt động, sự kiện thu hút truyền thông; tăng cường liên kết, quảng bá thương hiệu du lịch; lan tỏa hình ảnh du lịch Quảng Ngãi và duy trì hiệu ứng truyền thông dài hạn.
Địa bàn Quảng Ngãi cũ có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng thu hút khách du lịch như:
- Đảo Lý Sơn: Được mệnh danh là "Vương quốc tỏi", nổi tiếng với cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, những bãi biển hoang sơ, núi lửa cổ, chùa Hang, cổng Tò Vò...
- Bãi biển Mỹ Khê: Một trong những bãi biển đẹp nhất miền Trung, với cát trắng mịn, nước biển trong xanh.
- Núi Thiên Ấn: Ngọn núi linh thiêng với chùa Thiên Ấn cổ kính, từ đây có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành phố Quảng Ngãi.
- Di tích Sơn Mỹ: Nơi ghi dấu tội ác chiến tranh của Mỹ, là một địa điểm tham quan mang ý nghĩa lịch sử to lớn.
- Khu chứng tích chiến tranh Sơn Mỹ: Nơi trưng bày những hình ảnh, hiện vật về vụ thảm sát Sơn Mỹ.
Sau khi hợp nhất, không gian du lịch của tỉnh Quảng Ngãi trải từ biển đảo phía đông lên cao nguyên phía tây. Tỉnh xác định ba hạt nhân tạo thành tam giác phát triển du lịch là Trung tâm du lịch biển – đảo Lý Sơn, Khu du lịch Măng Đen và Di tích quốc gia đặc biệt Văn hóa Sa Huỳnh. Định hướng phát triển được nêu là "ba quốc gia, một điểm đến", hình thành các tuyến du lịch kết nối giữa cao nguyên và biển đảo trên cơ sở phát huy sự đa dạng bản sắc văn hóa của mỗi vùng miền.
Lý Sơn là đảo núi lửa nằm ngoài khơi, được định hướng phát triển thành trung tâm du lịch biển – đảo của tỉnh. Trên đảo có Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Năm 2025, danh lam thắng cảnh cổng Tò Vò ở Lý Sơn được xếp hạng di tích quốc gia. Dọc bờ biển, tỉnh tập trung phát triển Khu du lịch Mỹ Khê để sớm được công nhận là khu du lịch quốc gia, đồng thời tỉnh đang kêu gọi đầu tư tổ hợp khu đô thị, dịch vụ, du lịch nghỉ dưỡng và giải trí quy mô lớn dọc tuyến đường ven biển Dung Quất – Sa Huỳnh.

Măng Đen là khu du lịch trọng điểm ở phía tây tỉnh, được định hướng phát triển thành trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. Khu vực này có khí hậu mát mẻ quanh năm và hệ sinh thái rừng phong phú. Ở vùng núi phía tây tỉnh Quảng Ngãi cũ, các điểm được xác định để thu hút đầu tư gồm Khu du lịch Thạch Bích – Núi Chúa và núi Cà Đam.
Ở phía tây tỉnh, các công trình kiến trúc và tôn giáo tiêu biểu gồm nhà thờ gỗ Kon Tum, xây dựng từ năm 1913 theo lối kết hợp kiến trúc Roman với nhà sàn truyền thống của người Ba Na, Tòa Giám mục Kon Tum, chùa Tổ đình Bác Ái, chùa Khánh Lâm và tượng Đức Mẹ Măng Đen. Cầu treo Kon Klor bắc qua sông Đăk Bla và các làng du lịch cộng đồng Kon Klor, Kon Jơ Dri, Kon K'Tu là những điểm tham quan gắn với văn hóa bản địa. Di tích lịch sử Ngục Đăk Glei đang được nghiên cứu lập hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.
Tỉnh phát triển đa dạng các loại hình gồm du lịch biển – đảo, du lịch sinh thái và nông nghiệp, du lịch văn hóa và lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng, ưu tiên các sản phẩm du lịch đặc trưng và có bản sắc riêng. Năm 2025, tỉnh đón 4.900 nghìn lượt khách, tăng 29,7% so với năm trước, trong đó khách quốc tế đạt 61.000 lượt. Doanh thu du lịch đạt 2.640 tỷ đồng, tăng 22,6%. Toàn tỉnh có hơn 700 cơ sở lưu trú du lịch với khoảng 9.000 phòng, trong đó 3 khách sạn 4 sao, 6 khách sạn 3 sao, 14 khách sạn 2 sao và 18 khách sạn 1 sao.
Giao thông

Quảng Ngãi là đầu mối giao thông quan trọng xuyên suốt trên địa bàn tỉnh, có Quốc lộ 1, đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông, tuyến đường sắt Bắc - Nam và đường cao tốc Quảng Ngãi - Đà Nẵng chạy qua tỉnh. Quốc lộ 24 là tuyến giao thông quan trọng đối với Quảng Ngãi trong quan hệ kinh tế, văn hoá giữa duyên hải và Tây Nguyên, giao lưu trao đổi hàng hoá, phát triển kinh tế miền núi gắn với an ninh quốc phòng. Phía Bắc tỉnh, giáp sân bay Chu Lai (Đà Nẵng). Tỉnh Quảng Ngãi có cảng Dung Quất. Đây là cảng biển tổng hợp Quốc gia có độ sâu và kín gió lý tưởng, có tổng sản lượng hàng hóa xếp dỡ lớn thứ 5 toàn quốc (năm 2019), có khả năng xếp dỡ hàng lỏng (lọc hóa dầu) và hàng rời. Cụm cảng này có khả năng cho phép đón các loại tàu với các kích cỡ khác nhau tùy theo bến. Đặc biệt, Cảng Hòa Phát Dung Quất đã cho phép cập cảng với tàu có kích thước lên đến đến 200000 DWT nhờ độ sâu và luồng tàu lý tưởng. Ngoài ra, với bờ biển dài 144 km, Quảng Ngãi có nhiều cửa biển, cảng quy mô nhỏ như Sa Kỳ, Sa Cần, Cửa Đại, Mỹ Á, Sa Huỳnh, Bến Đình (Lý Sơn)... có tiềm năng về giao thông đường thủy, thương mại và du lịch.
Tỉnh kết nghĩa
Tỉnh Nghệ An
Tỉnh Bắc Kạn (kết nghĩa với Kon Tum cũ)
Tỉnh Champasack
Tỉnh Attapeu
Tỉnh Sekong
Nguồn: “Quảng Ngãi” — Wikipedia tiếng Việt, theo giấy phép CC BY-SA 4.0. Cập nhật lần cuối: .
Xem bản gốc