Đảo Wake còn gọi là Rạn san hô vòng Wake là một rạn san hô vòng cô lập ở Tây Thái Bình Dương, thuộc phần đông bắc tiểu vùng Micronesia và là lãnh thổ chưa hợp nhất, phi tổ chức của Hoa Kỳ. Nơi đây gồm ba đảo nhỏ là Wake, Wilkes và Peale bao quanh một đầm phá trung tâm. Nằm ở vị trí cực kỳ biệt lập, đảo Wake cách Guam 2.416 km về phía đông, Tokyo 3.204 km về phía đông nam và Honolulu 3.698 km về phía tây. Điểm dân cư gần nhất là rạn san hô vòng Utirik thuộc quần đảo Marshall, cách đảo Wake 953 km về phía đông nam.

Đảo Wake (tiếng Marshall: Ānen Kio, n.đ. 'island of the kio flower') còn gọi là Rạn san hô vòng Wake (tiếng Chamorro: Islan Wake) là một rạn san hô vòng cô lập ở Tây Thái Bình Dương, thuộc phần đông bắc tiểu vùng Micronesia và là lãnh thổ chưa hợp nhất, phi tổ chức của Hoa Kỳ. Nơi đây gồm ba đảo nhỏ là Wake, Wilkes và Peale bao quanh một đầm phá trung tâm. Nằm ở vị trí cực kỳ biệt lập, đảo Wake cách Guam 2.416 km về phía đông, Tokyo 3.204 km về phía đông nam và Honolulu 3.698 km về phía tây. Điểm dân cư gần nhất là rạn san hô vòng Utirik thuộc quần đảo Marshall, cách đảo Wake 953 km về phía đông nam.
Đảo Wake được quản lý bởi Không quân Hoa Kỳ theo thỏa thuận với Bộ Nội vụ Hoa Kỳ, đóng vai trò là điểm tiếp nhiên liệu và hạ cánh khẩn cấp quan trọng cho máy bay quân sự ở giữa Thái Bình Dương với đường băng dài 3.000 m (9.800 ft), lớn nhất trong các quần đảo ở khu vực này. Phía nam đường băng là Trung tâm Phóng đảo Wake thuộc Khu thử nghiệm Reagan, do Cơ quan Phòng thủ Tên lửa (MDA) và Bộ tư lệnh Phòng thủ Tên lửa và Không gian Lục quân Hoa Kỳ (SMDC) vận hành. Dù được quần đảo Marshall tuyên bố chủ quyền, đảo Wake hiện là một lãnh thổ chưa sáp nhập và chưa tổ chức của Hoa Kỳ, thuộc nhóm các đảo nhỏ xa bờ. Hiện nay, việc tiếp cận đảo bị hạn chế nghiêm ngặt; đảo không có dân cư trú thường xuyên mà chỉ có khoảng 300 người thường trực, bao gồm các quân nhân và nhà thầu quân sự hoạt động tại đây.
Đảo này có thể đã được người Austronesia phát hiện từ thời tiền sử trước khi Álvaro de Mendaña de Neira ghi nhận vào năm 1568. Dù có nhiều tàu thuyền ghé thăm, hòn đảo chỉ thực sự được phát triển từ năm 1935 khi Pan American Airways xây dựng sân bay và khách sạn làm điểm dừng cho thủy phi cơ xuyên Thái Bình Dương, sau khi Mỹ tuyên bố chủ quyền vào năm 1899. Trong Thế chiến II, đảo Wake là nơi ghi dấu bước lùi quân sự đầu tiên của Nhật Bản vào ngày 11 tháng 12 năm 1941 khi lực lượng Mỹ đẩy lùi cuộc xâm lăng, đánh đắm hai tàu khu trục và một tàu chở lính. Tuy nhiên, 12 ngày sau đó, quân Nhật với sự hỗ trợ từ các tàu sân bay trở về sau trận Trân Châu Cảng đã chiếm giữ hòn đảo này cho đến khi chiến tranh kết thúc vào tháng 9 năm 1945. Đến năm 1972, do sự xuất hiện của máy bay Boeing 747 có thể bay thẳng không cần tiếp nhiên liệu, Pan American Airways ngừng hoạt động tại đây. Quyền quản lý hòn đảo được chuyển giao cho Không quân Hoa Kỳ, nơi sau đó trở thành địa điểm tiếp nhận người tị nạn Việt Nam trong Chiến dịch New Life vào năm 1975.
Đảo Wake có hệ thực vật đặc trưng gồm cây nhiệt đới, bụi rậm và cỏ chịu hạn. Nơi đây từng là địa bàn của hàng triệu con chuột và cua ẩn sĩ, khiến con người phải nuôi mèo để kiểm soát chúng. Trong Thế chiến II, loài chim gà nước đảo Wake không biết bay bản địa đã bị tuyệt chủng. Hiện nay, do thảm thực vật tại Wake quá dày đặc, hầu hết các loài chim biển ghé thăm đều tập trung làm tổ tại khu bảo tồn trên đảo Wilkes. Về mặt bảo tồn, các vùng đất ngập nước và nổi tại đảo Wake đã được đưa vào diện bảo vệ, trở thành một phần của Di tích Quốc gia Biển Quần đảo Thái Bình Dương theo tuyên bố của Tổng thống George W. Bush vào năm 2009. Ngoài ra, vì mục đích thống kê, đảo Wake được Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế xếp vào nhóm các tiểu đảo xa của Hoa Kỳ (UM-79).
Từ nguyên học
Đảo Wake được đặt theo tên của thuyền trưởng người Anh William Wake (hoặc Samuel Wake), người đã khám phá ra đảo san hô này vào những năm 1790 khi đang chỉ huy tàu Prince William Henry.
Đảo Peale được đặt tên theo nhà tự nhiên học Titian Peale, còn đảo Wilkes đặt theo tên sĩ quan Hải quân Charles Wilkes; cả hai đều đến thăm rạn san hô Wake trong chuyến thám hiểm của Hoa Kỳ vào năm 1841.
Địa lý

| Tên | Mẫu Anh | hecta |
|---|---|---|
| Đảo Wake | 1,367.04 | 553.22 |
| Đảo Wilkes | 197.44 | 79.90 |
| Đảo Peale | 256.83 | 103.94 |
| Đảo Wake (bao gồm cả ba đảo nhỏ) | 1,821.31 | 737.06 |
| Đầm phá (nước) | 1,480.00 | 600.00 |
| Bãi cát | 910.00 | 370.00 |



Dù chính thức gọi là một "đảo" theo quy ước của Hải quân Hoa Kỳ từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Đảo Wake thực chất là một rạn san hô vòng ở tọa độ 19°18′B 166°38′Đ / 19,3°B 166,633°Đ, gồm ba đảo nhỏ (Wake, Wilkes, Peale) vây quanh đầm phá nông trung tâm sâu tối đa 4,5 m. Quần thể này có tổng diện tích đất khoảng 6,5 km² (2,5 dặm vuông), chiều dài bờ biển toàn rạn là 33,8 km (riêng đảo Wake là 19,3 km), được bao quanh bởi bãi biển cát rộng 80 m và rạn san hô viền ngoài khơi. Về mặt địa hình, cao độ của quần thể dao động từ 0 m (mực nước biển Thái Bình Dương) đến điểm cao nhất là 6 m tại điểm Vịt (Ducks). Ngoài ra, vùng biển thuộc chủ quyền nơi đây bao gồm 12 hải lý lãnh hải và 200 hải lý vùng kinh tế đặc biệt.
Hòn đảo này cấu tạo từ cát và san hô, nằm trên một rạn san hô phát triển từ đỉnh núi lửa cổ đã tắt dưới lòng đại dương. Tương tự nhiều đảo khác ở Thái Bình Dương, đảo hình thành khi sóng biển bào mòn núi lửa tắt dần sát mặt nước, tạo điều kiện cho san hô phát triển thành một đảo san hô vòng (xem thêm Núi bàn). Trên đảo, đặc biệt là khu vực phía nam của Wake và Wilkes, rải rác nhiều tảng đá lớn với đường kính trung bình từ 1–2 m.
Đảo Wake nằm ở phía tây Đường đổi ngày quốc tế (múi giờ UTC+12, đi trước 50 tiểu bang Hoa Kỳ gần một ngày). Đảo cách Honolulu 2.300 dặm (3.700 km) về phía đông, cách Guam 1.510 dặm (2.430 km) về phía tây, cách đảo san hô Midway 1.170 dặm (1.880 km) về phía đông bắc, và cách đảo san hô không người ở Bokak (quần đảo Marshall), vùng đất liền gần nhất là 348 dặm (560 km) về phía đông nam.
Một eo biển nông tách biệt Wake và Peale, trong khi Wilkes được nối với Wake bằng một con đường đắp cao. Kênh ngầm đang xây dựng dở dang hiện đôi khi tràn qua Wilkes, gần như chia đôi hòn đảo này.
Đảo san hô có một số mũi đất và điểm được đặt tên:
- Đảo Wilkes (Đảo nhỏ tách ra ở phía nam và tây)
- Mũi Kuku (Mũi phía Tây của Wilkes)
- Kênh Wilkes (một kênh dẫn đến khu vực cảng nhỏ ở phía nam của hòn đảo)
- Kênh Submarine (một kênh nhân tạo cho một cảng tàu ngầm chưa hoàn thành trong Thế chiến II, còn được gọi là Kênh Mới)
- Đảo Peale (ở phía bắc và phía tây, ngăn cách với Wake bởi một eo biển hẹp)
- Mũi Toki (Mũi phía Tây của Peale)
- Mũi Flipper (Mũi đất của đảo Peale nhô ra đầm phá hướng về phía tây)
- Đảo Wake (không bao gồm các đảo nhỏ)
- Mũi Heel (mũi đất phía bắc của đảo Wake trước khi nó chuyển hướng về phía đảo Peale)
- Mũi Peacock (điểm cực nam và cực đông của đảo Wake)
- Đường đắp nổi băng qua eo biển Wilkes đến đảo Wilkes.
Môi trường
Khí hậu
Đảo Wake có khí hậu xavan nhiệt đới (phân loại Köppen Aw/As, Trewartha Asha) với gió mậu dịch đông bắc thổi quanh năm. Dù nằm trong vùng nhiệt đới với nhiệt độ dao động từ 18°C đến 35°C, hòn đảo vẫn chịu ảnh hưởng của các cơn bão ôn đới định kỳ vào mùa đông. Nhiệt độ mặt nước biển tại đây luôn ấm áp, thường vượt quá 27°C vào mùa hè và mùa thu. Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.000 mm (40 inch), tập trung chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 10. Đôi khi, đảo cũng đón nhận các cơn bão nhiệt đới đi qua.
| Dữ liệu khí hậu của đảo Wake, Hoa Kỳ (số liệu trung bình giai đoạn 1991–2020, số liệu cực đoan giai đoạn 1953–2004) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Cao kỷ lục °F (°C) | 89 (32) |
93 (34) |
92 (33) |
94 (34) |
93 (34) |
94 (34) |
94 (34) |
97 (36) |
96 (36) |
92 (33) |
90 (32) |
91 (33) |
97 (36) |
| Trung bình ngày tối đa °F (°C) | 83.2 (28.4) |
83.3 (28.5) |
84.0 (28.9) |
85.4 (29.7) |
86.8 (30.4) |
88.8 (31.6) |
89.1 (31.7) |
89.4 (31.9) |
89.1 (31.7) |
88.1 (31.2) |
86.0 (30.0) |
84.4 (29.1) |
86.5 (30.3) |
| Trung bình ngày °F (°C) | 78.7 (25.9) |
78.3 (25.7) |
78.7 (25.9) |
80.0 (26.7) |
81.4 (27.4) |
83.3 (28.5) |
83.4 (28.6) |
83.7 (28.7) |
83.4 (28.6) |
82.8 (28.2) |
81.3 (27.4) |
79.9 (26.6) |
81.2 (27.3) |
| Trung bình ngày tối thiểu °F (°C) | 74.2 (23.4) |
73.3 (22.9) |
73.4 (23.0) |
74.5 (23.6) |
76.0 (24.4) |
77.9 (25.5) |
77.7 (25.4) |
78.0 (25.6) |
77.7 (25.4) |
77.4 (25.2) |
76.5 (24.7) |
75.3 (24.1) |
76.0 (24.4) |
| Thấp kỷ lục °F (°C) | 63 (17) |
63 (17) |
60 (16) |
62 (17) |
64 (18) |
70 (21) |
65 (18) |
65 (18) |
64 (18) |
63 (17) |
61 (16) |
64 (18) |
60 (16) |
| Lượng Giáng thủy trung bình inches (mm) | 1.64 (42) |
1.48 (38) |
2.07 (53) |
1.50 (38) |
2.03 (52) |
1.78 (45) |
4.10 (104) |
4.38 (111) |
5.91 (150) |
5.18 (132) |
2.39 (61) |
2.14 (54) |
34.60 (879) |
| Số ngày giáng thủy trung bình (≥ 0.01 mm) | 9.6 | 8.6 | 11.9 | 13.2 | 13.2 | 13.5 | 18.0 | 18.4 | 19.6 | 18.4 | 14.4 | 13.4 | 172.2 |
| Nguồn 1: NOAA | |||||||||||||
| Nguồn 2: XMACIS2 | |||||||||||||
Bão

Ngày 19 tháng 10 năm 1940, một cơn bão dữ dội đổ bộ vào đảo Wake với sức gió 220 km/giờ. Đây là thiên tai đầu tiên được ghi nhận tại đây kể từ khi bắt đầu hoạt động quan sát vào năm 1935.
Ngày 16 tháng 9 năm 1952, siêu bão Olive đổ bộ đảo Wake với sức gió 280 km/h. Cơn bão gây ngập lụt nghiêm trọng, phá hủy 85% công trình và thiệt hại 1,6 triệu USD.
Vào lúc 22:40 ngày 16 tháng 9 năm 1967, siêu bão Sarah càn quét qua đảo với vận tốc gió vùng tâm bão đạt 240 km/h. Cuồng phong đổi hướng từ bắc sang nam đã san phẳng mọi công trình bán kiên cố. May mắn thay, nhờ kịp thời sơ tán dân cư trước đó, trận thiên tai không ghi nhận thương vong nghiêm trọng nào.
Ngày 28 tháng 8 năm 2006, trước mối đe dọa của siêu bão Ioke cấp 5, Không quân Hoa Kỳ đã sơ tán toàn bộ 188 cư dân và tạm dừng mọi hoạt động trên đảo Wake. Ba ngày sau, vành mắt bão phía tây nam quét qua đảo với sức gió vượt quá 298 km/h, gây ra sóng lớn cao 6 m tràn vào đầm phá và tràn ngập các cơ sở hạ tầng. Đến tháng 9 năm 2006, một đội kiểm định và sửa chữa đã quay trở lại để khắc phục một phần sân bay cùng các tiện ích, từng bước khôi phục hoàn toàn hoạt động bình thường trên đảo.
Sinh thái học

Đảo Wake thuộc Khu bảo tồn động vật hoang dã quốc gia Wake Atoll và Đài tưởng niệm quốc gia biển các đảo hẻo lánh Thái Bình Dương.


Thực vật bản địa đảo Wake gồm cây bụi, cỏ và đất ngập nước. Vùng cây bụi có cây phong ba chiếm ưu thế, cùng cây bão táp, Tâm mộc hình tim và Pisonia grandis. Các loài cỏ tiêu biểu là Dactyloctenium aegyptium và Tribulus cistoides. Vùng đất ngập nước chủ yếu có Sesuvium portulacastrum, riêng Pemphis acidula mọc gần đầm phá thủy triều.
Đảo san hô và vùng biển lân cận được BirdLife International công nhận là Vùng chim quan trọng (IBA) nhờ bảo tồn khoảng 200.000 cá thể nhạn đen (số liệu năm 1999). Nơi đây từng ghi nhận 56 loài chim trú ngụ. Trong đó, đảo Wilkes chủ yếu làm khu bảo tồn, sở hữu một cánh đồng được phát quang định kỳ nhằm thu hút chim nhạn đen cùng các loài khác đến làm tổ, tránh xa khu vực đường băng sân bay.
Hoạt động của con người đã đưa nhiều loài xâm lấn đến đảo san hô Wake. Mèo hoang được nhập cư từ thập niên 1960 để diệt chuột và làm thú cưng, sau đó bị xóa sổ hoàn toàn vào năm 2008 sau chiến dịch diệt trừ kéo dài từ năm 1996. Trong số hai loài chuột ngoại lai là chuột Polynesia (Rattus exulans) và chuột nhà châu Á (Rattus tanezumi), chỉ có chuột nhà châu Á bị tiêu diệt vào năm 2014, còn chuột Polynesia vẫn tồn tại. Về thực vật, cây phi lao (Casuarina equisetifolia) được trồng làm hàng rào chắn gió từ những năm 1960 hiện đã tạo thành các khu rừng thuần loài lấn át cây bản địa, dẫn đến nỗ lực triệt phá từ năm 2017. Ngoài ra, đảo còn xuất hiện cỏ gà, cây keo dậu và các loài kiến ngoại lai. Cảnh quan hiện tại của đảo là sự xen kẽ giữa thảm cỏ, bụi rậm nhiệt đới và những tán cây cao trên 7 m.

Đầm phá, rạn san hô và đại dương tại đảo Wake sở hữu hệ sinh vật biển vô cùng phong phú. Nơi đây có quần thể cá vẹt đầu gù lớn nhất thế giới, cùng ít nhất 100 loài san hô và hơn 320 loài cá, nổi bật là các loài cá mập rạn san hô xám, vây đen và cá mập xám. Ngoài ra, đảo san hô này còn là địa bàn sinh sống của nhiều loài cua đất, đặc biệt là loài cua ẩn sĩ Coenobita perlatus.
Thông tin nhân khẩu học
| Năm | Số dân | ±% |
|---|---|---|
| 1936 | ~50 | — |
| 1941 | 1.738 | — |
| 1942 | 5.738 | +230.1% |
| 1943 | 4098? | — |
| 1944 | ? | — |
| 1945 | 400 | — |
| 1960 | 1.097 | +174.3% |
| 1970 | 1.647 | +50.1% |
| 1975 | 8700+ | — |
| 1980 | 302 | — |
| 1990 | 7 | −97.7% |
| 2000 | 3 | −57.1% |
| 2009 | 150 | +4900.0% |
| 2010 | 188 | +25.3% |
| 2015 | 94 | −50.0% |
| 2017 | 100 | +6.4% |
Tính đến năm 2017, dù không có cư dân thường trú và bị hạn chế tiếp cận, đảo Wake vẫn có khoảng 100 nhân viên Không quân cùng nhà thầu Mỹ và Thái Lan lưu trú, với cơ sở hạ tầng sân bay đáp ứng 198 giường từ năm 2011.
Việc cư trú bắt đầu từ năm 1935, bởi các nhân viên trạm dừng chân và khách sạn Pan Am trên đảo Peale.
Năm 1941, đảo Wake có hơn 500 binh lính và 1.200 nhà thầu dân sự. Ngày 24 tháng 12, khi đảo đầu hàng, quân Nhật bắt giữ 1.603 tù binh (không tính số người tử trận). Trong số 45 nhân viên Pan Am từ Guam kẹt lại, 10 người mất mạng tại đảo, 35 người còn lại bị đưa tới các trại giam ở châu Á.
Trong trận chiến đảo Wake (tháng 12 năm 1941), 45 công nhân Guam tại căn cứ không quân Pan Am đã tự nguyện tham gia chiến đấu bảo vệ đảo sau trận oanh tạc đầu tiên khiến 5 người chết, 5 người bị thương. Khi bệnh viện bị đánh bom, cả 5 người bị thương đều hy sinh. Sau khi đảo thất thủ, 35 người còn lại bị bắt làm tù binh và giam giữ tại Trung Quốc, nơi 2 người qua đời do bị tra tấn. 33 người sống sót sau đó bị chuyển đến Osaka (Nhật Bản) cho đến khi chiến tranh kết thúc. Nhờ những cống hiến quả cảm này, năm 1988, các công nhân Guam đã được chính thức công nhận là cựu chiến binh và trao tặng Huân chương Tù binh Chiến tranh.
Năm 1975, rạn san hô này từng đón tiếp 8.700 người tị nạn Việt Nam trong Chiến dịch Cuộc sống Mới.
Nhiều nhà thầu dân sự đầu thế kỷ 21 đến từ Thái Lan.
Lịch sử



Thời tiền sử
Theo truyền thống truyền khẩu của người Marshall bản xứ, đảo Wake trước khi người châu Âu đến được gọi là Ānen Kio (hay Enen-kio), nghĩa là "đảo hoa cam". Trong văn hóa tôn giáo cổ, các tù trưởng (Iroijlaplap) cần xăm mình bằng dụng cụ làm từ xương người tươi, trừ khi tìm được xương cánh của một loài chim biển lớn chỉ sống tại Ānen Kio để thay thế. Do đó, các nhóm nhỏ người Marshall thường vượt biển đến đây nhằm tìm xương chim cứu mạng người.
Dựa vào truyền thuyết này và khái niệm quyền sử dụng đất trước tiên, một nhóm ly khai đã tự xưng là Vương quốc EnenKio để tuyên bố chủ quyền đối với đảo Wake, nhưng bị cả chính quyền Quần đảo Marshall và Hoa Kỳ mạnh mẽ bác bỏ. Trên thực tế, do vị trí biệt lập và hoàn toàn thiếu nước ngọt, hòn đảo này không thể duy trì sự cư trú lâu dài trong thời kỳ tiền hiện đại, và cho đến nay vẫn không có cổ vật nào được tìm thấy. Sự xuất hiện của chuột Polynesia chỉ cho thấy nơi đây từng là điểm dừng chân của những người đi biển cổ đại. Học giả Dwight Heine nhận định Ānen Kio thực chất chỉ là một khu bảo tồn thiên nhiên để săn bắn, hái lượm tạm thời, tương tự như các đảo san hô Bokak và Bikar, và hành trình đến đảo này có thể đã chấm dứt vào giữa những năm 1800 khi các nhà truyền giáo phương Tây đặt chân đến quần đảo Marshall.
Các cuộc thám hiểm ban đầu và các vụ đắm tàu
Lần đầu tiên đảo Wake được phát hiện là vào ngày 2 tháng 10 năm 1568 bởi nhà thám hiểm Tây Ban Nha Álvaro de Mendaña de Neira. Khởi hành từ Callao, Peru vào năm 1567 trên hai con tàu Los Reyes và Todos los Santos để tìm kiếm vùng đất vàng theo truyền thuyết Inca, đoàn thám hiểm đã đi qua Tuvalu và quần đảo Solomon trước khi tiến về phía bắc. Tại đây, họ tìm thấy một hòn đảo thấp, cằn cỗi với chu vi khoảng 8 dặm (khoảng 3 hải lý ngày nay). Vì thời điểm phát hiện là đêm trước lễ Thánh Phanxicô Assisi, Mendaña đã đặt tên cho đảo là "San Francisco" (tiếng Tây Ban Nha: Isla San Francisco). Dù thủy thủ đoàn đang cằn cỗi vì bệnh scurvy và thiếu nước ngọt, họ buộc phải rời đi vì hòn đảo hoàn toàn hoang vu, không có nước ngọt, dừa hay dứa dại mà chỉ có cát bụi, bụi rậm và chim biển. Thú vị là sau này, trong nỗ lực tìm kiếm lại tọa độ đảo Wake do Mendaña ghi chép, James Cook đã vô tình lần đầu tiên đặt chân đến Quần đảo Hawaii.
Năm 1796, Thuyền trưởng William Wake (của tàu buôn Prince William Henry) đến đảo và đặt tên cho đảo san hô này theo tên của mình. Ngay sau đó, Thuyền trưởng Charles William Barkley của tàu buôn lông thú Halcyon cũng ghé qua; vì không biết về chuyến viếng thăm trước đó, ông đã đặt tên nơi này là đảo Halcyon theo tên tàu của mình. Đến năm 1823, Thuyền trưởng Edward Gardner của tàu săn cá voi Bellona tiếp tục tìm thấy một hòn đảo tại tọa độ 19°15′0″B 166°32′0″Đ / 19,25°B 166,53333°Đ{{#coordinates:}}: một trang không thể chứa nhiều hơn một thẻ chính được miêu tả là "bao phủ bởi cây cối, xanh tươi và mộc mạc", báo cáo này sau đó được xác nhận chính là Đảo Wake.

Ngày 20 tháng 12 năm 1841, Đoàn thám hiểm Hoa Kỳ do Trung úy Charles Wilkes chỉ huy đã tiến hành khảo sát đảo Wake. Wilkes mô tả đây là một đảo san hô vòng có dạng hình tam giác, cao khoảng 2,4 m so với mực nước biển, sở hữu một đầm phá lớn giàu sản vật nhưng lại thiếu nguồn nước ngọt. Thảm thực vật tại đây chủ yếu là cây phong ba, và hòn đảo có dấu hiệu thường xuyên bị sóng biển tràn qua. Trong chuyến đi này, nhà tự nhiên học Titian Peale cũng ghi nhận những khối san hô khổng lồ bị đánh dạt lên bờ, đồng thời thu thập được nhiều mẫu vật tự nhiên quý giá như chuột Polynesia và trứng chim hải âu đuôi ngắn.
Đảo Wake lần đầu tiên thu hút sự chú ý của quốc tế sau vụ đắm tàu buồm vỏ sắt Libelle đến từ Bremen vào đêm 4 tháng 3 năm 1866. Khi đang trên hành trình từ San Francisco đến Hồng Kông dưới sự chỉ huy của Thuyền trưởng Anton Tobias, con tàu chở thủy ngân này đã đâm vào rạn san hô phía đông của đảo trong một cơn bão. Sau ba ngày tìm kiếm trên đảo, thủy thủ đoàn vớt được một thùng nước ngọt 760 lít từ xác tàu, đồng thời chôn cất một số hàng hóa giá trị xuống đảo gồm các lọ thủy ngân, tiền xu và đá quý. Trải qua ba tuần cạn kiệt nước uống và không thấy cứu hộ, toàn bộ người trên tàu quyết định dùng hai chiếc thuyền còn lại để vượt biển tìm đến đảo Guam thuộc thuộc địa Tây Ban Nha lúc bấy giờ. Thuyền phó Rudolf Kausch dẫn đầu chiếc thuyền dài chở 22 hành khách cùng một số thủy thủ đã đến Guam an toàn vào ngày 8 tháng 4 năm 1866 sau 13 ngày chống chọi với nắng nóng và giông bão. Trong khi đó, chiếc thuyền nhỏ hơn do Thuyền trưởng Tobias chỉ huy đã vĩnh viễn mất tích trên biển.
Thống đốc Tây Ban Nha tại Quần đảo Mariana, Francisco Moscoso y Lara, đã đón tiếp, hỗ trợ những người sống sót sau vụ đắm tàu Libelle ở Guam, đồng thời cử tàu buồm Ana do con rể George H. Johnston chỉ huy cùng thuyền phó Kausch đi tìm kiếm chiếc thuyền mất tích. Sau đó, tàu Ana tiếp tục đến Đảo Wake để xác minh vụ việc và trục vớt thành công số tiền xu, đá quý cùng một ít thủy ngân được chôn giấu tại đây sau hai ngày tìm kiếm.
Ngày 29 tháng 7 năm 1870, tàu chở trà Dashing Wave của Anh do thuyền trưởng Henry Vandervord chỉ huy rời Phúc Châu đi Sydney. Đêm 31 tháng 8, gặp giông bão lớn và biển động dữ dội, tàu va phải rạn san hô rồi vỡ tan tại đảo Wake. Lúc sơ tán, thuyền trưởng kịp mang theo bản đồ và dụng cụ hàng hải nhưng thiếu la bàn; thủy thủ đoàn chỉ đem được ít bánh mì, rượu và hai chiếc xô mà không có nước ngọt. Do đảo không có nhu yếu phẩm, 13 người lập tức rời đi trên chiếc xuồng cứu sinh được chế buồm tạm từ chăn và mái chèo. Họ phải uống rượu cầm hơi cho đến khi có mưa vào ngày thứ sáu. Sau 31 ngày lênh đênh về phía tây, họ đến được đảo Kosrae an toàn. Thuyền trưởng nhận định nguyên nhân tai nạn do bản đồ định vị đảo Wake không chính xác, vì đảo này rất thấp và cực kỳ khó quan sát trong đêm.
Hoa Kỳ sở hữu đảo


Năm 1898, sau khi sáp nhập Hawaii và giành được Guam cùng Philippines từ Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ, Hoa Kỳ bắt đầu chú ý đến đảo Wake vô chủ, nằm giữa Honolulu và Manila. Hòn đảo không người này được đánh giá là vị trí lý tưởng để xây dựng trạm cáp điện báo và trạm tiếp than cho các tàu thương mại cùng hạm đội tàu chiến đang mở rộng của Hải quân Mỹ. Vào ngày 4 tháng 7 cùng năm, trên đường tới Philippines trên tàu SS China, Chuẩn tướng Francis V. Greene thuộc Quân đội Hoa Kỳ đã dừng chân tại đảo Wake và chính thức kéo cờ khẳng định chủ quyền.
Ngày 17 tháng 1 năm 1899, nhận lệnh từ Tổng thống William McKinley, Tư lệnh Edward D. Taussig thuộc tàu USS Bennington đã lên đảo Wake và chính thức tuyên bố chủ quyền cho Hoa Kỳ bằng nghi lễ kéo cờ, bắn 21 phát đại bác chào mừng rồi gắn một tấm bảng đồng lưu niệm lên cột cờ với dòng chữ sau:
- William McKinley, Tổng thống;
- John D. Long, Bộ trưởng Hải quân.
- Thiếu tá Edward D. Taussig, Hải quân Hoa Kỳ,
- Chỉ huy tàu USS Bennington,
- Vào ngày 17 tháng 1 năm 1899, đã diễn ra
- quyền sở hữu đảo san hô Wake
- Đảo dành cho Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.
Dù tuyến cáp ngầm qua đảo Wake ngắn hơn 220 km, quần đảo Midway vẫn được chọn làm trạm điện báo giữa Honolulu và Guam cho Công ty Cáp Thương mại Thái Bình Dương, bởi theo Chuẩn đô đốc Royal Bird Bradford phát biểu trước Hạ viện Mỹ ngày 17 tháng 1 năm 1902, đảo Wake có cao độ thấp dễ bị biển tràn qua và không có cảng, trong khi Midway có điều kiện sống tốt cùng một cảng biển phù hợp cho tàu mớn nước 5 m.
Ngày 23 tháng 6 năm 1902, trên hành trình đến Manila, tàu vận tải USAT Buford do Đại úy Alfred Croskey chỉ huy đã phát hiện một chiếc thuyền nhỏ trên bãi biển đảo Wake. Ngay sau đó, nhóm người Nhật trên đảo đã chèo thuyền ra tiếp cận. Họ cho biết mình đến đây bằng một tàu buồm từ Yokohama để thu thập phân chim và phơi cá, dù Đại úy Croskey nghi ngờ họ đang săn ngọc trai. Nhóm người Nhật từ chối lời đề nghị đưa đến Manila và khẳng định không thiếu lương thực hay nước uống, đồng thời chờ tàu buồm quay lại sau một tháng. Nhận thấy một thành viên trong số họ có triệu chứng mắc bệnh tê phù, Đại úy Croskey đã cung cấp một số vật tư y tế, thuốc lá cùng vài vật dụng lặt vặt cho họ trước khi tiếp tục hành trình.
Sau khi tàu USAT Buford đến Manila, Thuyền trưởng Croskey đã báo cáo về sự hiện diện của người Nhật tại đảo Wake và cho biết tàu USAT Sheridan cũng gặp tình huống tương tự. Sự việc được báo cáo lên Trợ lý Bộ trưởng Hải quân Charles Darling; ông lập tức thông báo cho Bộ Ngoại giao để yêu cầu chính phủ Nhật Bản giải thích. Đến tháng 8 năm 1902, Công sứ Nhật Bản Takahira Kogorō gửi công hàm khẳng định Tokyo không tuyên bố chủ quyền đối với hòn đảo, đồng thời mong muốn các công dân Nhật Bản đang hoạt động hòa bình tại đây sẽ được bảo vệ hợp pháp.
Đảo Wake bấy giờ là lãnh thổ của Hoa Kỳ nhưng ít khi được tàu bè ghé đến. Nổi bật vào tháng 12 năm 1906, Tướng quân đội Mỹ John J. Pershing, người sau này chỉ huy Lực lượng Viễn chinh Hoa Kỳ tại Tây Âu thời Thế chiến I, đã dừng chân ở đây trên tàu USAT Thomas và tự tay treo một lá cờ Mỹ 45 sao làm bằng vải buồm.
Hoạt động của Nhật Bản

Đầu thế kỷ 20, đảo Wake là một vùng đất hoang vắng, hẻo lánh ở Thái Bình Dương do hạn chế về nước ngọt, không có cảng biển và không có kế hoạch phát triển. Dẫu vậy, quần thể chim biển to lớn nơi đây vẫn thu hút những kẻ săn trộm người Nhật đến lập trại thu hoạch lông vũ để cung cấp cho ngành làm mũ thời trang châu Âu cùng các nhà sản xuất chăn gối toàn cầu. Hoạt động buôn bán này chủ yếu nhắm vào các loài hải âu, chim điên, chim frigate và chim nhạn. Vào năm 1904, Chuẩn đô đốc Robley D. Evans trên tàu USS Adams đã phát hiện người Nhật đang thu gom lông chim và săn cá mập lấy vây tại đây. Đến các năm 1922 và 1923, thủy thủ đoàn từ các tàu USS Beaver và USS Tanager tiếp tục nhìn thấy những trại săn trộm bị bỏ hoang. Mặc dù việc khai thác lông vũ bị cấm tại các lãnh thổ thuộc Hoa Kỳ, nhưng không có ghi chép nào cho thấy quy định này từng được thực thi tại đảo Wake.

Tháng 1 năm 1908, tàu Toyoshima Maru của Nhật Bản gặp bão lớn khi đang đến Nam Thái Bình Dương, khiến thuyền trưởng cùng 5 thủy thủ mất tích trên biển. 36 thành viên còn lại may mắn dạt vào đảo Wake, phải trải qua 5 tháng chống chọi với bệnh tật và đói khát. Đến tháng 5 năm 1908, tàu huấn luyện Benjamin Constant của Hải quân Brazil trong chuyến hải trình vòng quanh thế giới đã phát hiện cờ cứu hộ của họ. Dù không thể cập bến, thủy thủ đoàn Brazil vẫn kiên trì thực hiện chiến dịch cứu nạn bằng dây cáp suốt ba ngày, giải cứu thành công 20 người sống sót và đưa họ về Yokohama an toàn.
Các cuộc thám hiểm của Hoa Kỳ
Trong cuốn sách Sea-Power in the Pacific: A Study of the American-Japanese Naval Problem, xuất bản năm 1921, Hector C. Bywater từng đề xuất xây dựng một trạm tiếp nhiên liệu bảo vệ nghiêm ngặt tại đảo Wake để cấp than và dầu cho Hải quân Hoa Kỳ trong các chiến dịch chống Nhật tương lai. Đến ngày 19 tháng 6 năm 1922, tàu USS Beaver đã cử một đội khảo sát đến hòn đảo này để đánh giá tính khả thi. Trung tá Sherwood Picking nhận định rằng về mặt chiến lược, đảo Wake có vị trí hoàn hảo khi cùng với Midway chia tuyến đường từ Honolulu đến Guam thành ba phần bằng nhau. Tuy nhiên, do đầm phá quá nông và kênh tàu bị san hô chặn, Wake không thể làm căn cứ cho tàu nổi. Thay vào đó, Picking đề xuất khơi thông kênh dẫn cho thuyền chở hàng tiếp tế và mạnh mẽ khuyến nghị dùng hòn đảo này làm căn cứ, trạm dừng nghỉ cũng như tiếp nhiên liệu cho các chuyến bay xuyên Thái Bình Dương sau này.

Năm 1923, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, Bảo tàng Bishop và Hải quân Mỹ phối hợp tổ chức một cuộc thám hiểm sinh học toàn diện tại các đảo Tây Bắc Hawaii. Nhận lời mời từ Bộ trưởng Nông nghiệp, Hải quân đã điều động tàu quét mìn USS Tanager đưa đoàn thám hiểm do nhà điểu học Alexander Wetmore dẫn đầu mở rộng khảo sát sang các đảo Johnston, Midway và Wake. Đến đảo Wake vào ngày 27 tháng 7 năm 1923, đoàn đã dựng trại tại đảo Wilkes và tiến hành lập bản đồ, nghiên cứu động thực vật, thu thập mẫu vật, đồng thời khảo sát độ sâu đại dương dưới sự chỉ huy của Trung tá Samuel Wilder King. Trong chuyến đi, họ đã phát hiện ba trại săn trộm lông chim bỏ hoang của người Nhật, ghi nhận loài chim nước Wake quý hiếm trước khi tuyệt chủng và xác định Wake là một đảo san hô vòng gồm ba hòn đảo bao quanh một đầm phá. Wetmore sau đó đã đặt tên cho hòn đảo phía tây nam là Wilkes và đảo phía tây bắc là Peale để vinh danh các thành viên thuộc Đoàn thám hiểm tiên phong Hoa Kỳ năm 1841.
Hãng hàng không Pan American


Để mở rộng mạng lưới bay sang Trung Quốc, Juan Trippe là chủ tịch hãng Pan American Airways (PAA), cần tìm các trạm dừng tiếp nhiên liệu giữa Thái Bình Dương. Khi quả địa cầu chỉ cho thấy vùng biển trống trải từ Midway đến Guam, ông đã tra cứu tài liệu hàng hải cổ tại Thư viện Công cộng New York và tìm ra đảo san hô Wake. Tuy nhiên, để xây dựng căn cứ tại Midway và Wake, Trippe phải xin quyền tiếp cận từ chính phủ Hoa Kỳ, dù lúc bấy giờ cả hai đảo đều chưa thuộc thẩm quyền quản lý của bất kỳ cơ quan cụ thể nào.
Trước bối cảnh Đế quốc Nhật Bản ngày càng gia tăng thế lực và thái độ bành trướng tại Tây Thái Bình Dương, giới hoạch định quân sự và ngoại giao Hoa Kỳ đã bày tỏ sự lo ngại sâu sắc. Sau Thế chiến I, Nhật Bản được Hội quốc liên trao quyền ủy trị các đảo Micronesia thuộc Đức cũ ở Nam Thái Bình Dương (gồm Palau, Liên bang Micronesia, Quần đảo Bắc Mariana và Quần đảo Marshall ngày nay). Dù Hiệp ước Hải quân Washington năm 1922 cấm củng cố công sự quân sự tại đây, Nhật Bản vẫn hạn chế người ngoài tiếp cận và âm thầm xây dựng các cảng biển cùng sân bay. Để đối phó, Hải quân Hoa Kỳ và Bộ Ngoại giao đã tận dụng kế hoạch mở đường bay qua đảo Wake và Midway của hãng hàng không Pan American Airways nhằm thiết lập sức mạnh không quân Mỹ dưới danh nghĩa thương mại. Tháng 10 năm 1934, Giám đốc Trippe của hãng này xin thuê đảo Wake. Nhận thấy giá trị quân sự chiến lược, Tham mưu trưởng Hải quân Standley lập tức cử tàu USS Nitro đến khảo sát, và đến cuối tháng 12 năm 1934, Tổng thống Franklin D. Roosevelt ký sắc lệnh chuyển quyền kiểm soát đảo Wake cùng một số đảo khác cho Bộ Hải quân. Nhằm che giấu mục đích quân sự thực sự, Chuẩn đô đốc Yarnell sau đó đã tạm thời chỉ định đảo Wake làm một khu bảo tồn chim.
Ngày 8 tháng 3 năm 1935, tàu USS Nitro đến đảo Wake để tiến hành khảo sát toàn diện thực địa và chụp ảnh thực trạng đảo san hô này trong hai ngày, mang lại những dữ liệu chiến lược quan trọng cho Hải quân. Dựa trên kết quả đó, vào ngày 12 tháng 3, Bộ trưởng Hải quân Claude A. Swanson đã chính thức cấp phép cho hãng hàng không Pan American Airways xây dựng các căn cứ tại đây.

Để xây dựng căn cứ Thái Bình Dương, ngày 9 tháng 5 năm 1935, hãng PAA thuê tàu SS North Haven (6.700 tấn) chở công nhân và vật tư đến đảo Wake nhằm lập cơ sở hạ cánh cho thủy phi cơ. Do rạn san hô ngăn tàu vào đầm phá nông, đoàn phải dỡ hàng qua đảo Wilkes lân cận. Dù đảo Peale mới là nơi tối ưu để xây dựng do Wilkes hay bị ngập, hàng hóa vẫn buộc phải trung chuyển bằng sà lan lên Wilkes, rồi tiếp tục đi sà lan qua đầm phá để tới Peale. Nhờ các thanh ray có sẵn trên tàu, đội ngũ đã kịp thời dựng một tuyến đường sắt khổ hẹp dùng máy kéo toa phẳng để vận chuyển vật tư qua Wilkes dễ dàng hơn. Ngày 12 tháng 6, tàu North Haven rời đi Guam, để lại đội xây dựng và các kỹ thuật viên tiếp tục công việc.
Tại đầm phá đảo san hô Wake, Bill Mullahey, một thợ lặn tự do từ Đại học Columbia, được giao nhiệm vụ kích nổ phá hủy hàng trăm khối san hô để tạo đường băng an toàn cho thủy phi cơ với chiều dài 1.600 m, rộng 270 m và sâu 2 m. Trong suốt ba tháng, khoảng 4,5 tấn thuốc nổ đã được sử dụng để giải phóng khu vực này.
Ngày 17 tháng 8, một thủy phi cơ của hãng PAA đã có lần đầu tiên hạ cánh xuống đầm phá Đảo Wake trong chuyến bay khảo sát tuyến đường giữa Midway và Wake.
Đoàn thám hiểm thứ hai của North Haven đến đảo Wake ngày 5 tháng 2 năm 1936 để hoàn thiện cơ sở vật chất cho PAA. Họ đã dỡ một đầu máy diesel 5 tấn cho Đường sắt đảo Wilkes và mở rộng đường ray nối liền các bến tàu. Tại đảo Peale đối diện đầm phá, các công nhân lắp ráp Khách sạn Pan American tiền chế gồm 48 phòng đầy đủ tiện nghi với sảnh trung tâm, hiên rộng và phòng tắm nước nóng. Cơ sở này vận hành nhờ đội ngũ lao động người Chamorro đến từ Guam làm phụ bếp, phục vụ và công nhân. Khu làng trên đảo Peale sau đó được gọi là "PAAville", trở thành định cư vĩnh viễn đầu tiên của con người tại đảo Wake.

Tháng 10 năm 1936, Pan American Airways (PAA) bắt đầu vận chuyển hành khách qua Thái Bình Dương bằng đội bay Martin M-130 "Flying Clipper". Đảo Wake liên tiếp đón các chuyến bay thử nghiệm và báo chí trước khi chính thức phục vụ những hành khách trả tiền đầu tiên trên chiếc Hawaii Clipper vào ngày 25 tháng 10. Đến năm 1937, hòn đảo này trở thành điểm dừng thường xuyên với tần suất hai chuyến mỗi tuần cho dịch vụ bay quốc tế của PAA, sử dụng cả hai dòng thủy phi cơ là Martin M-130 và Boeing 314 Clipper.

Đảo Wake là một thành công sớm của phương pháp thủy canh, giúp hãng Pan American Airways tự trồng rau cho hành khách do chi phí vận chuyển hàng không cao và hòn đảo thiếu đất tự nhiên; hoạt động này duy trì đến khi Nhật Bản không kích vào tháng 12 năm 1941, kéo Hoa Kỳ vào Thế chiến II.
Chuyến bay cuối cùng rời đảo Wake trước khi bị Nhật Bản chiếm đóng là chiếc Martin M-130 thuộc hãng Pan Am. Khi đang trên đường tới Guam, máy bay phải quay lại đảo vì nhận tin tức về cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Tại đây, phi cơ bị hư hại nhẹ và hai phi hành đoàn bị thương do trúng bom từ cuộc không kích của quân Nhật. Sau khi tháo bỏ ghế ngồi để giảm trọng lượng, máy bay đã sơ tán thành công 40 người, bao gồm hành khách và các nhân viên Pan Am, về Hoa Kỳ qua ngả Midway và Trân Châu Cảng. Do cất cánh vội vã chỉ hai giờ sau trận oanh tạc, 37 người đã bị bỏ lại. Ngoại trừ một lính thủy đánh bộ được giải cứu bằng tàu bay PBY Catalina vào ngày 21 tháng 12, đây là nhóm người cuối cùng rời đảo an toàn trước khi Wake hoàn toàn thất thủ vào ngày 23 tháng 12 năm 1941.
Tăng cường quân sự

Tháng 1 năm 1941, Hải quân Mỹ khởi công xây dựng căn cứ quân sự trên đảo san hô Wake. Đến ngày 19 tháng 8, lực lượng đồn trú thường trực đầu tiên gồm 449 lính Thủy quân lục chiến (Tiểu đoàn Phòng thủ số 1) do Thiếu tá Winfield S. Cunningham chỉ huy đã có mặt tại đảo. Ngoài ra, trên đảo còn có 68 nhân viên hải quân và khoảng 1.221 công nhân dân sự thuộc công ty Morrison-Knudsen. Khi Thế chiến II bùng nổ, căn cứ này vẫn chưa hoàn thiện. Việc thiếu các nhà chứa và hầm trú ẩn đã gây ra rất nhiều khó khăn cho công tác sửa chữa máy bay bị hư hỏng trong suốt trận đánh tại đây.
Ngày 14 tháng 2 năm 1941, Tổng thống Franklin D. Roosevelt ký Sắc lệnh hành pháp 8682, thành lập các vùng phòng thủ hải quân tại trung tâm Thái Bình Dương. Theo đó, "Khu vực biển phòng thủ hải quân đảo Wake" được thiết lập, giới hạn từ mực nước thủy triều cao nhất đến ranh giới ba hải lý quanh đảo. Đồng thời, "Khu vực không phận hải quân đảo Wake" cũng ra đời nhằm kiểm soát bầu trời tại đây. Mọi tàu thuyền và máy bay dân sự hoặc nước ngoài đều bị cấm xâm nhập hai khu vực này, trừ khi có sự cho phép của Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ.
Tháng 11 năm 1941, phi đoàn VMF-211 đem theo 12 chiếc F4F-3 Wildcat và 13 phi công lên tàu USS Enterprise để chuyển đến đảo Wake. Họ cất cánh từ tàu sân bay này và tới nơi vào ngày 3 tháng 12.
Thế chiến II
Ngày 8 tháng 12 năm 1941, quân Nhật oanh tạc đảo Wake, buộc thủy phi cơ của hãng Pan-Am phải sơ tán hành khách và nhân viên. Ba ngày sau, lực lượng đồn trú trên đảo (gồm khoảng 500 lính thủy đánh bộ và 1.100 nhà thầu dân sự) đã dùng pháo binh bắn chìm hai tàu khu trục, đẩy lùi đợt đổ bộ đầu tiên của phát xít Nhật. Đây được coi là chiến thắng đầu quân sự đầu tiên của Mỹ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Tuy nhiên, kế hoạch tiếp tế và sơ tán của Hải quân Mỹ chưa kịp thực hiện thì quân Nhật đã mở cuộc tấn công quy mô lớn hơn vào ngày 23 tháng 12 năm 1941 và chiếm đóng đảo. Phần lớn tù binh bị áp giải đi nơi khác, riêng 100 người ở lại đã bị hành quyết vào năm 1943. Trong suốt cuộc chiến, đảo Wake liên tục bị Đồng minh ném bom cô lập nhưng không bị đánh chiếm. Đến tháng 6 năm 1945, Nhật Bản được phép sơ tán 1.000 thương binh bằng tàu bệnh viện, và chính thức ký văn kiện đầu hàng quân đội Mỹ trên đảo vào tháng 9 năm 1945.
Trận chiến đảo Wake

Ngày 8 tháng 12 năm 1941 (theo giờ địa phương), ngay sau trận Trân Châu Cảng, 27 máy bay ném bom Mitsubishi G3M "Nell" của Nhật Bản từ quần đảo Marshall đã bất ngờ tập kích đảo Wake, phá hủy 8 trong số 12 tiêm kích F4F Wildcat của Thủy quân lục chiến Mỹ ngay trên mặt đất. Dù vậy, hệ thống phòng thủ tại đây vẫn đứng vững do địch chủ yếu nhắm vào lực lượng không quân. Trong hai ngày 9 và 10 tháng 12, Nhật Bản tiếp tục oanh tạc, tổn thất hai máy bay nhưng đã phá hủy được một kho đạn trên đảo Wilkes, san phẳng bệnh viện Wake và làm hư hại nhiều công trình. Cùng lúc đó, hạm đội đổ bộ của Nhật cũng xuất phát từ Marshall và dự kiến tiếp cận đảo vào ngày 11 tháng 12. Đêm 10 tháng 12, tàu ngầm USS Triton của Mỹ đã chạm trán và phóng ngư lôi vào một tàu khu trục địch khi đang tuần tra. Dù không có tàu nào bị đánh chìm, đây vẫn là lần đầu tiên tàu ngầm Mỹ khai hỏa bằng ngư lôi trong Chiến tranh Thái Bình Dương.
Trong chiến dịch này, Hải quân Nhật Bản đã mất một tàu ngầm do tai nạn va chạm nội bộ. Rạng sáng ngày 17 tháng 12 năm 1941, trong lúc đang nổi trên mặt nước để sạc pin giữa vùng biển động cách đảo Wake 25 hải lý về phía tây nam, tàu ngầm Ro-66 và Ro-62 bất ngờ phát hiện ra nhau ở cự ly quá gần. Dù cả hai tàu đều nỗ lực lùi lại nhưng không kịp, dẫn đến việc Ro-62 đâm trúng Ro-66 vào lúc 20:20 (giờ Nhật Bản). Cú va chạm khiến Ro-66 chìm tại chỗ, làm 63 thành viên thủy thủ đoàn tử nạn, bao gồm cả Chỉ huy Sư đoàn Tàu ngầm 27. Ro-62 chỉ kịp cứu sống được 3 người bị hất văng xuống biển từ đài chỉ huy.
Trong Trận chiến đảo Wake, trú đóng Mỹ cùng các công nhân dân sự thuộc Tập đoàn Morrison-Knudsen đã đẩy lùi đợt đổ bộ đầu tiên của quân Nhật vào ngày 11 tháng 12. Sau chiến thắng này, một giai thoại nổi tiếng lan truyền rằng chỉ huy đảo, Thiếu tá James Devereux, đã gửi bức điện: "Gửi cho chúng tôi thêm lính Nhật!". Tuy nhiên, sau chiến tranh, Devereux đã phủ nhận điều này và khẳng định: "Không ai trong chúng tôi ngu ngốc đến mức đó. Chúng tôi đã có quá nhiều lính Nhật rồi." Thực tế, người chỉ huy tối cao tại đảo Wake là Tư lệnh Winfield S. Cunningham. Để đánh lừa các chuyên gia giải mật mã của Nhật, một sĩ quan cấp dưới đã thêm các cụm từ vô nghĩa "gửi chúng tôi" và "thêm người Nhật" vào đầu và cuối một bức điện mã hóa thông thường. Khi bức điện được tiếp nhận và giải mã tại Trân Châu Cảng, các phần này vô tình bị ghép lại thành thông điệp nổi tiếng kể trên.
Từ ngày 12 đến 19 tháng 12 năm 1941, quân đội Nhật Bản liên tục mở các đợt không kích dữ dội vào đảo Wake bằng thủy phi cơ và lực lượng máy bay ném bom hai động cơ G3M (Nell). Lực lượng phòng vệ trên đảo đã kiên quyết chống trả, bắn rơi nhiều máy bay địch bằng pháo phòng không và tiêm kích F4F Wildcat. Đáng chú ý, một chiếc Wildcat còn đánh chìm thành công một tàu ngầm Nhật Bản vào cuối ngày 12 tháng 12. Dù chịu một số tổn thất về người và khí tài, lực lượng trên đảo vẫn trụ vững trước các đợt oanh tạc. Phía dưới mặt biển, hai tàu ngầm USS Triton và USS Tambor của Hải quân Hoa Kỳ làm nhiệm vụ tuần tra từ trước khi chiến sự nổ ra. Trước đó vào ngày 1 tháng 12, một thủy thủ bị bệnh của tàu Triton được đưa lên đảo Wake; người này sau đó trở thành tù binh và sống sót qua Thế chiến II. Khi chiến tranh bùng nổ, tàu Triton nhận lệnh tránh xa đảo san hô để tránh hỏa lực nhầm từ đồng đội. Vào ngày 10 tháng 12, USS Triton đã bắn những quả ngư lôi đầu tiên của Mỹ trong Chiến tranh Thái Bình Dương vào một tàu khu trục Nhật Bản, dù không làm chìm tàu địch và bản thân trốn thoát an toàn. Trong khi đó, tàu Tambor phải sớm rút lui về Hawaii vào giữa tháng 12 do gặp sự cố kỹ thuật.
Ngày 20 tháng 12 năm 1941, một chiếc thủy phi cơ PBY Catalina đã đến đảo Wake để phát thư. Khi máy bay rời đi, Thiếu tá Walter L. J. Bayler cũng có mặt theo lệnh điều động đến Midway, trở thành người cuối cùng rời đảo trước khi nơi này thất thủ. Ngày 21 tháng 12, nhóm tàu sân bay Nhật Bản tung lực lượng gồm 49 máy bay mở cuộc oanh tạc dữ dội vào Wake. Dù một biên đội Hải quân Mỹ đang trên đường tới tiếp viện (dự kiến đến vào ngày 24 tháng 12), kế hoạch này đã phá sản hoàn toàn khi quân Nhật tung đợt tấn công thứ hai và đánh chiếm hòn đảo vào ngày 23 tháng 12. Sau trận chiến kéo dài từ ngày 8 đến ngày 23 tháng 12, những binh sĩ tử trận của cả hai bên Mỹ và Nhật đều được an táng ngay trên đảo.
Dù nỗ lực ứng cứu từ Hawaii, Hải quân Hoa Kỳ đã tổn thất nặng nề tại Trân Châu Cảng, và hạm đội cứu viện tiếp theo lại bị trì hoãn do thời tiết xấu. Bị cô lập trước lực lượng Nhật Bản áp đảo, đồn trú Mỹ thất thủ vào ngày 23 tháng 12 với 52 quân nhân và khoảng 70 thường dân thiệt mạng. Tuy nhiên, lực lượng phòng thủ đảo Wake đã gây thiệt hại lớn cho đối phương khi hạ từ 700 đến 1.000 quân Nhật, đánh chìm 2 tàu vận tải nhanh, 1 tàu ngầm và bắn rơi 24 máy bay. Nhận tin đảo mất, hạm đội cứu viện của Mỹ đang trên đường tới đã quyết định quay về.

Sau trận chiến, phần lớn tù binh dân sự và quân sự bị đưa đến các trại tập trung ở châu Á. Số lao động dân sự còn lại bị cưỡng bức lao động để củng cố hệ thống phòng thủ trên đảo.
Sau khi trận chiến kết thúc vào ngày 23 tháng 12, quân Nhật bắt giữ 1.603 tù binh, bao gồm 1.150 thường dân. Ba tuần sau, phần lớn họ bị đưa đến các trại tù binh ở châu Á bằng tàu Nita Maru, ngoại trừ khoảng 350–360 người ở lại do bị thương nặng hoặc là thầu khoán biết vận hành máy móc trên đảo. Nhật ký của hai sĩ quan chỉ huy Wilcox và Russel là nguồn tư liệu quý giá về giai đoạn này, cho đến khi họ cùng 265 người khác bị chuyển đi vào tháng 9 năm 1942, để lại 98 tù binh trên đảo. Đến tháng 12 năm 1942, đảo Wake có chỉ huy mới là Sakaibara. Dưới sự tàn bạo của viên chỉ huy này, vào tháng 7 năm 1943, một tù binh vô danh đã bị hành quyết vì cáo buộc ăn cắp thức ăn. Đỉnh điểm là ngày 7 tháng 10 năm 1943, toàn bộ số tù binh còn lại bị xả súng máy sát hại tại một hào chống tăng. Khi chiến tranh kết thúc, quân đồn trú Nhật đầu hàng và lừa dối rằng các tù binh chết do bom oanh tạc. Tuy nhiên, lời nói dối bị vạch trần khi một số sĩ quan để lại ghi chép vạch trần sự thật, buộc Sakaibara phải cúi đầu thú nhận tội ác hành quyết hàng loạt này.
Sự chiếm đóng của Nhật Bản, các cuộc không kích, tù binh chiến tranh

Nhật Bản đổi tên đảo Wake thành Ōtorishima (Đảo Chim Lớn) và bố trí lực lượng đồn trú mạnh mẽ gồm hơn 3.900 quân. Lực lượng này bao gồm Đơn vị Vệ binh 65 thuộc Hải quân của Đại tá Shigematsu Sakaibara và Trung đoàn Hỗn hợp Độc lập số 13 thuộc Lục quân do Đại tá Shigeji Chikamori chỉ huy. Lo ngại một cuộc tấn công từ đối phương, quân đội Nhật đã ép buộc các tù binh Mỹ xây dựng hệ thống hầm hào, công sự kiên cố, đồng thời bố trí thêm một khẩu pháo hải quân 8 inch (200 mm) để tăng cường phòng thủ. Thay vì đổ bộ trực tiếp, Hải quân Hoa Kỳ chọn phương án phong tỏa hòn đảo bằng tàu ngầm và liên tục tổ chức các cuộc không kích. Đáng chú ý, một trong những trận ném bom này chính là nhiệm vụ chiến đấu đầu tiên của vị Tổng thống Mỹ tương lai là George H. W. Bush.
Hòn đảo cũng được rải truyền đơn và thả bè cao su nhỏ để người trên đảo có thể vượt biển trốn thoát.


Tháng 2 năm 1942, lực lượng Mỹ tiến hành cuộc tấn công bất ngờ bằng không quân và hải quân vào đảo Wake nhằm ngăn chặn Nhật Bản sử dụng nơi này làm bàn đạp đánh chiếm Midway. Trong ngày 23 tháng 2, nhiều mục tiêu trên đảo bị oanh tạc, hai tàu tuần tra Nhật bị đánh chìm và bốn thủy thủ bị bắt sống. Ngày hôm sau, các đợt không kích tiếp tục phá hủy thêm một tàu tuần tra và bắn rơi một máy bay trinh sát bốn động cơ của Nhật cách đảo 5 dặm về phía đông.
Từ tháng 6 năm 1942 đến tháng 10 năm 1944, đảo Wake liên tục chịu các cuộc không kích và trinh sát từ lực lượng Đồng minh nhằm vô hiệu hóa quân đồn trú Nhật Bản. Ban đầu, các phi đội B-24 xuất phát từ Midway thường xuyên oanh tạc và đụng độ quyết liệt với máy bay Zero của Nhật, điển hình là các trận không chiến dữ dội vào tháng 5 và tháng 7 năm 1943. Đến tháng 10 năm 1943, quy mô tấn công tăng cường với sự kết hợp giữa pháo kích hải quân và không kích từ tàu sân bay. Sang năm 1944, để phối hợp cho chiến dịch giành quần đảo Marshall, thủy phi cơ PB2Y từ Midway và sau đó là các máy bay B-24 từ căn cứ mới Kwajalein đã liên tục oanh tạc hòn đảo này cho đến tháng 10, trước khi các nhóm tàu sân bay thực hiện vài đợt không kích cuối cùng tại đây.
Ngày 10 tháng 5 năm 1942, một tù binh bị xử tử do đột nhập cửa hàng và say xỉn. Đến tháng 9, thêm 265 người rời đảo, còn lại 98 người.
Tháng 3 năm 1943, tàu vận tải Suwa Maru của Nhật Bản chở hơn 1.000 binh sĩ đến đảo Wake. Sau khi bị tàu ngầm USS Tunny của Mỹ phóng ngư lôi gây ngập nước, con tàu buộc phải lao vào rạn san hô và mắc cạn tại đây để không bị chìm.
Sau trận không kích của quân đội Mỹ vào ngày 5 tháng 10 năm 1943, Chuẩn đô đốc Nhật Bản Sakaibara ra lệnh xử bắn 97 tù binh Mỹ còn lại bằng súng máy tại phía bắc đảo Wake. Một tù binh may mắn trốn thoát đã kịp khắc dòng chữ "98 US PW 5-10-43" lên một tảng đá san hô gần ngôi mộ tập thể trước khi bị bắt lại và hành quyết. Để che giấu sự việc, quân đội Nhật đã nhiều lần di dời và cải táng các thi thể từ khu vực đường băng đến Mũi Peacock. Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, hài cốt của các nạn nhân mới được khai quật và đưa về an táng trang trọng tại Nghĩa trang Quốc gia Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.
Vào giai đoạn cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai, quân đồn trú Nhật Bản trên đảo Wake lâm vào tình trạng kiệt quệ và chết đói do bị cắt đứt hoàn toàn nguồn cung cấp từ đầu năm 1944. Để sinh tồn qua cơn khủng hoảng, binh lính Nhật phải áp dụng chế độ phân phối lương thực nghiêm ngặt và tận dụng mọi nguồn lực tại chỗ. Họ ra sức đánh bắt cá, trồng trọt trên đất cát san hô, ăn chuột Polynesia và thu hoạch trứng chim nhạn đen. Áp lực sinh tồn khốc liệt này đã khiến loài Chim gà nước đảo Wake bị săn bắt đến mức tuyệt chủng. Kết cục, khoảng ba phần tư lực lượng Nhật Bản tại đây đã bỏ mạng trước khi chiến tranh kết thúc.
Đầu hàng và xét xử

Ngày 4 tháng 9 năm 1945, quân đồn trú Nhật Bản trên đảo Wake chính thức đầu hàng Lực lượng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ do Chuẩn tướng Lawson H. M. Sanderson chỉ huy. Trước khi đầu hàng, để che giấu tội ác sát hại 98 tù binh Mỹ vào năm 1943, quân đội Nhật đã khai quật mộ tập thể, chuyển di hài đến nghĩa trang mới tại Mũi Peacock và dựng các cây thánh giá bằng gỗ nhằm ngụy tạo rằng họ chết do không kích hoặc nổi loạn. Tuy nhiên, sự thật nhanh chóng bị phơi bày qua các cuộc điều tra. Một số sĩ quan Nhật Bản liên quan đã tự sát và để lại lời khai buộc tội Đô đốc Shigematsu Sakaibara. Kết cục, Sakaibara và cấp dưới là Trung tá Tachibana bị kết án tử hình vì tội ác chiến tranh. Sakaibara bị xử treo cổ tại Guam vào ngày 18 tháng 6 năm 1947, còn Tachibana được giảm án xuống tù chung thân. Di hài các nạn nhân sau đó được cải táng tại Nghĩa trang Tưởng niệm Quốc gia Thái Bình Dương ở Honolulu. Trước đó, vào năm 1944, vụ thảm sát Palawan diễn ra khi Đại úy Nagayoshi Kojima ra lệnh thiêu sống 150 tù binh Mỹ trong chiến hào vì lo sợ quân Đồng minh đến gần (11 người sống sót). Nhận ra xu hướng hành quyết tù binh của quân Nhật khi bị dồn vào đường cùng, quân Đồng minh đã phát động các chiến dịch đặc biệt để giải cứu khẩn cấp các trại tù binh khác. Đến thời điểm đầu hàng, lực lượng Nhật Bản trên đảo Wake chỉ còn khoảng 2.200 người, giảm mạnh so với ban đầu do các đợt không kích, nạn đói, bệnh lao, và một phần lớn (974 người) đã được di tản về nước vào tháng 6 năm 1945.
Ngày 1 tháng 11 năm 1945, phần lớn binh lính Nhật Bản sống sót đã lên tàu Hikawa Maru để hồi hương. Những người còn lại cùng các sĩ quan được áp giải đến căn cứ Mỹ; tuy nhiên, trên đường đi, hai sĩ quan đã tự sát và để lại di thư tiết lộ một vụ thảm sát tù binh chiến tranh. Một sĩ quan khác sau đó cũng viết thư xác nhận sự việc này. Trước các bằng chứng, viên Đô đốc đã thừa nhận mệnh lệnh của mình và nhận trách nhiệm, dẫn đến phiên tòa xét xử vào cuối tháng 12 cùng năm. Tại đảo Wake, thi thể của các nạn nhân và những người tử trận trước đó đã được khai quật. Do không thể nhận dạng từng người, họ được an táng chung trong một ngôi mộ tập thể có khắc bia tưởng niệm. Một buổi lễ tưởng niệm chính thức đã được tổ chức tại đây vào năm 1953.

Sân bay quân sự và thương mại thời hậu Thế chiến II

Sau Thế chiến II, sự phát triển của ngành hàng không quốc tế đã biến đảo Wake thành căn cứ tiếp nhiên liệu và bảo dưỡng quan trọng giữa Thái Bình Dương. Tháng 10 năm 1945, Hải quân Hoa Kỳ tiếp quản đảo và điều động Tiểu đoàn Xây dựng số 85 đến dọn dẹp, xây dựng căn cứ không quân mới. Đến tháng 3 năm 1946, căn cứ hoàn thành. Vào tháng 9 cùng năm, hãng Pan Am nối lại các chuyến bay thương mại, chuyển từ thủy phi cơ sang các dòng máy bay đường dài hiện đại hơn để tận dụng đường băng san hô mới. Nhiều hãng hàng không khác như BOAC, Japan Airlines, Philippine Airlines và Transocean Airlines cũng nhanh chóng mở các tuyến bay qua đây. Trước sự bùng nổ của các chuyến bay thương mại, vào ngày 1 tháng 7 năm 1947, Hải quân bàn giao quyền quản lý đảo Wake cho Cục Hàng không Dân dụng (CAA). Đến năm 1949, CAA tiến hành trải nhựa và kéo dài đường băng lên 7.000 feet để nâng cấp cơ sở hạ tầng.

Tháng 7 năm 1950, Chiến dịch Vận tải Hàng không Triều Tiên bùng nổ. Sân bay đảo Wake trở thành trạm tiếp nhiên liệu thiết yếu giữa Thái Bình Dương của Lực lượng Vận tải Hàng không Quân sự Mỹ (MATS) nhằm chi viện cho Chiến tranh Triều Tiên. Đến tháng 9, cao điểm mỗi ngày có tới 120 máy bay quân sự hạ cánh tại đây. Vào ngày 15 tháng 10, Tổng thống Harry S. Truman và Tướng MacArthur đã quyết định chọn đảo Wake làm nơi họp bàn chiến lược chiến tranh, do vị trí này gần bán đảo Triều Tiên, giúp MacArthur tiết kiệm thời gian di chuyển và không phải rời xa chiến trường quá lâu.
Tháng 9 năm 1952, cơn bão Olive tàn phá đảo Wake với sức gió duy trì 120 mph và gió giật lên tới 142 mph, gây ra lũ lụt nghiêm trọng. Khoảng 750 người đã phải lánh nạn an toàn trong các hầm trú ẩn từ thời Thế chiến II, nhờ đó không có ai thiệt mạng và chỉ có 4 người bị thương. Tuy nhiên, thiên tai đã phá hủy 85% công trình trên đảo, san phẳng toàn bộ nhà dân, khách sạn, nhà nguyện và các lán Quonset, đồng thời làm hư hại trạm LORAN của Lực lượng Bảo vệ bờ biển Hoa Kỳ. Đến ngày 18 tháng 9 năm 1952, hệ thống điện nước được khôi phục và toàn bộ cơ sở vật chất, bao gồm cả cây cầu nối đảo Peale và đảo Wake, đã hoàn thành sửa chữa vào năm 1953. Tổng thiệt hại ước tính khoảng 1,6 triệu USD (thời giá năm 1952).

Từ năm 1950 đến năm 1978, Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hoa Kỳ vận hành một trạm LORAN với nhân sự khoảng 10 người. Trong giai đoạn đầu, các nhân viên lưu trú tại đảo Wake và di chuyển qua cầu để đến làm việc tại túp lều Quonset đặt thiết bị LORAN trên đảo Peale. Đến năm 1957, tàu chở hàng USCGC Kukui cập bến để hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng mới. Nhờ đó, vào năm 1958, các công trình hiện đại trên đảo Peale chính thức hoàn thành và thay thế cho cơ sở cũ.
Hệ thống định vị va chạm tên lửa
Giai đoạn 1958–1960, Hoa Kỳ triển khai Hệ thống Định vị Tác động Tên lửa (MILS) tại Trường bắn Thái Bình Dương nhằm xác định vị trí rơi của các đầu mũi tên lửa thử nghiệm. Hệ thống này do các đơn vị từng xây dựng mạng lưới SOSUS Đại Tây Dương và Bờ Tây thực hiện. Để hỗ trợ thử nghiệm tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) và tầm trung (IRBM), các trạm bờ MILS đã được thiết lập tại đảo Wake, Midway, Eniwetok và Trạm Không quân Thủy quân lục chiến Vịnh Kaneohe. Hệ thống bao gồm các mảng mục tiêu định vị chính xác và mạng lưới giám sát đại dương diện rộng.
Vụ đắm tàu chở dầu và tràn dầu

Ngày 6 tháng 9 năm 1967, do gặp gió Tây Nam che bờ mạnh, tàu chở dầu SS RC Stoner (trọng tải 18.000 tấn) của hãng Standard Oil đã bị mắc cạn tại rạn san hô đảo Wake sau khi neo đậu bất thành. Sự cố khiến khoảng 6 triệu gallon dầu tinh chế (gồm nhiên liệu máy bay, dầu diesel và dầu bunker C) tràn vào khu vực cảng nhỏ cùng bờ biển phía Tây Nam của đảo. Vụ tràn dầu nghiêm trọng này đã làm cá chết hàng loạt; ngay sau đó, nhân viên FAA và thủy thủ đoàn đã phải khẩn trương thu gom xác cá để làm sạch vùng biển bị ảnh hưởng trực tiếp.
Để xử lý sự cố, Trung tá John B. Orem (Sĩ quan Cứu hộ Hạm đội Thái Bình Dương) cùng Đội cứu hộ Hải quân Hoa Kỳ và Đơn vị Giải phóng Cảng số 2 đã bay đến đảo Wake khảo sát tình hình. Đến ngày 13 tháng 9, các tàu kéo (Mataco, Wandank), tàu cứu hộ (Conserver, Grapple), tàu chở dầu Noxubee và tàu Mallow của Lực lượng Phòng vệ Bờ biển cũng lần lượt hội quân từ Honolulu, Guam và Vịnh Subic để hỗ trợ giải phóng con tàu. Tại đây, đội cứu hộ tiến hành bơm vớt dầu trong cảng và thiêu hủy tại các hố đất gần đó vào mỗi tối. Dù vậy, do thời tiết xấu với gió mạnh và sóng lớn, công tác trục vớt tàu RC Stoner cùng số hàng hóa còn lại đã gặp rất nhiều trở ngại.
Ngày 16 tháng 9, siêu bão Sarah đổ bộ đảo Wake với sức gió giật 145 hải lý/giờ, gây tàn phá diện rộng. Sóng lớn quét sạch bờ biển và làm sạch cảng, vô tình hỗ trợ quá trình dọn dẹp, nhưng dầu tràn vẫn ngấm sâu vào các khe nứt rạn san hô. Cơn bão cũng đánh vỡ xác tàu đắm làm ba phần. Dù bị cản trở bởi biển động và cá mập vây đen, đội cứu hộ sau đó đã dùng chất nổ để đánh chìm hoàn toàn các phần tàu còn nổi.
Chính quyền quân sự Hoa Kỳ

Đầu thập niên 1970, sự xuất hiện của các dòng máy bay phản lực tầm xa, hiệu suất cao đã khiến Sân bay Đảo Wake mất đi vai trò điểm dừng tiếp nhiên liệu. Việc Pan Am thay thế Boeing 707 bằng Boeing 747 hiện đại hơn đã xóa bỏ các chặng dừng hàng tuần tại đây, kéo theo làn sóng cắt giảm chuyến bay của nhiều hãng hàng không khác. Đến giữa năm 1972, Pan Am chính thức dừng toàn bộ các chuyến bay chở khách và chở hàng đến đảo, khép lại thời hoàng kim của hàng không thương mại tại Wake. Cùng lúc đó, quân đội Mỹ cũng chuyển sang dùng các phi cơ C-5A và C-141 có tầm bay lớn hơn, khiến C-130 trở thành loại máy bay duy nhất còn duy trì tần suất hoạt động thường xuyên. Hoạt động kiểm soát không lưu tại Đảo Wake bước vào giai đoạn suy giảm rõ rệt và kéo dài.
Vào ngày 24 tháng 6 năm 1972, quyền quản lý dân sự đảo Wake được chuyển giao từ FAA sang Không quân Hoa Kỳ theo thỏa thuận giữa Bộ Nội vụ và Bộ Không quân. Đến tháng 7, MAC (Bộ Tư lệnh Vận tải Hàng không Quân sự) chính thức tiếp quản việc quản lý đảo, dù quyền sở hữu hợp pháp vẫn thuộc Bộ Nội vụ. Trong giai đoạn này, FAA vẫn duy trì các cơ sở dẫn đường và dịch vụ kiểm soát không lưu. Tuy nhiên, vào ngày 27 tháng 12 cùng năm, Tướng John D. Ryan (Tham mưu trưởng Không quân) đã chỉ thị MAC chấm dứt các hoạt động hỗ trợ trên đường bay tại đây trước ngày 30 tháng 6 năm 1973. Đến ngày 1 tháng 7 năm 1973, FAA hoàn toàn chấm dứt hoạt động tại Wake. Quyền kiểm soát hòn đảo lúc này chính thức thuộc về Phân đội 4, Cánh Căn cứ Không quân số 15 của Lực lượng Không quân Thái Bình Dương (PACAF).
Năm 1973, đảo Wake được chọn làm nơi thử nghiệm hệ thống đánh chặn tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) trong Dự án Have Mill của Quân đội Mỹ. Sự kiện này có sự phối hợp hỗ trợ từ lực lượng Không quân tại đảo và Tổ chức Hệ thống Không gian và Tên lửa (SAMSO). Sau khi tổ hợp phóng được kích hoạt, từ tháng 2 đến tháng 6 năm 1974, bảy tên lửa Athena H đã lần lượt được phóng từ đảo Wake hướng về phía Trường thử nghiệm Roi-Namur thuộc đảo san hô Kwajalein.
Năm 1973, đảo Wake được tuyên bố chủ quyền bởi thực thể sau này là Cộng hòa Quần đảo Marshall, dựa trên truyền thống truyền miệng.
Người tị nạn Việt Nam: Chiến dịch Cuộc sống mới

Vào mùa xuân năm 1975, Đảo Wake có 251 nhân sự với nhiệm vụ duy trì sân bay khẩn cấp ở Trung Thái Bình Dương. Trước sự kiện Sài Gòn sắp thất thủ, Tổng thống Mỹ Gerald Ford ra lệnh triển khai Chiến dịch Cuộc sống mới để di tản người tị nạn từ miền Nam Việt Nam. Ban đầu, Vịnh Subic (Philippines) và Guam được chọn làm trung tâm tiếp nhận, nhưng do số lượng người di tản quá lớn, Đảo Wake đã được bổ sung làm địa điểm xử lý.

Tháng 3 năm 1975, Bộ chỉ huy Không quân Thái Bình Dương (PACAF) lệnh cho Thiếu tá Bruce R. Hoon chuẩn bị biến đảo Wake thành trung tâm tiếp nhận người di tản Việt Nam. Tại đây, họ sẽ được kiểm tra y tế, phỏng vấn và hoàn tất thủ tục định cư sang Mỹ hoặc các nước khác. Để triển khai, một đội kỹ sư gồm 60 người đã nhanh chóng mở lại các tòa nhà bỏ hoang. Quân đội Mỹ cũng điều động hai bệnh viện dã chiến (MASH), ba bếp ăn lưu động, cùng lực lượng an ninh Không quân và nhân viên Cơ quan Nhập cư đến phối hợp. Toàn bộ nhu yếu phẩm như nước uống, lương thực, quần áo và vật tư y tế khẩn cấp đều được vận chuyển cấp tốc đến đảo.
Ngày 26 tháng 4 năm 1975, chuyến bay C-141 đầu tiên chở người tị nạn Việt Nam đã hạ cánh xuống đảo Wake, mở đầu cho chiến dịch không vận với tần suất 1 tiếng 45 phút một chuyến, mỗi máy bay chở 283 người. Vào cao điểm, hòn đảo này là nơi tạm cư của 8.700 người. Đến khi Chiến dịch Cuộc sống mới kết thúc vào ngày 2 tháng 8, tổng cộng khoảng 15.000 người tị nạn đã được tiếp nhận và xử lý tại đây.
Các chuyến kỷ niệm và tưởng niệm

Tháng 4 năm 1981, 19 người Nhật gồm 16 cựu binh từng ở đảo Wake thời Thế chiến II, đã đến đây viếng những người tử trận tại Đền Thần đạo.
Ngày 3-4 tháng 11 năm 1985, đoàn 167 cựu tù binh Mỹ lần đầu tiên cùng gia đình trở lại thăm đảo Wake.
Ngày 24 tháng 11 năm 1985, một chiếc Boeing 747 của Pan Am (được đổi tên thành China Clipper II) đã bay qua đảo Wake. Chuyến bay xuyên Thái Bình Dương này nhằm kỷ niệm 50 năm ngày khai trương dịch vụ Pan American China Clipper đến phương Đông. Các vị chức sắc trên máy bay gồm có nhà văn James A. Michener và Lars Lindbergh (cháu trai phi công Charles Lindbergh).
Thử nghiệm tên lửa của quân đội
Trong và sau Chiến tranh Lạnh, đảo Wake trở thành căn cứ chiến lược cho hệ thống phòng thủ tên lửa và thử nghiệm thiết bị tái nhập khí quyển thuộc Khu thử nghiệm Ronald Reagan. Nhờ vị trí đặc địa, hòn đảo này bảo đảm các quỹ đạo phóng và đánh chặn an toàn trên vùng biển rộng lớn, không có người ở.
Năm 1987, đảo Wake được chọn làm nơi phóng tên lửa cho Dự án Starlab/Starbird thuộc Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược (SDI). Đến năm 1989, Lục quân Hoa Kỳ đã xây dựng hai bệ phóng cùng các cơ sở hỗ trợ tại Mũi Peacock để phục vụ thử nghiệm tên lửa Starbird. Theo kế hoạch, hệ thống laser và quang điện tử trên tàu con thoi sẽ theo dõi các tên lửa này khi chúng được phóng từ Wake và Mũi Canaveral. Tuy nhiên, do sự cố tàu Challenger gây chậm trễ, dự án bị hủy bỏ vào tháng 9 năm 1990 để nhường kinh phí cho chương trình Brilliant Pebbles. Dù chưa từng phóng tên lửa Starbird nào, các bệ phóng tại Wake đã được cải tiến để phục vụ Brilliant Pebbles, bắt đầu từ ngày 29 tháng 1 năm 1992. Trong một đợt thử nghiệm vào ngày 16 tháng 10 cùng năm, một tên lửa Castor-Orbus đã bị phá hủy sau khi phóng được 7 phút. Chương trình này sau đó cũng bị hủy bỏ vào năm 1993.
Trong chương trình phòng thủ chiến lược LEAP của Quân đội Hoa Kỳ, hai tên lửa Aerojet Super Chief HPB đã được thử nghiệm từ Đảo Wake đầu năm 1993. Lần phóng ngày 28 tháng 1 thành công rực rỡ khi đạt độ cao 390 km. Ngược lại, đợt thử nghiệm thứ hai vào ngày 11 tháng 2 thất bại khi chỉ đạt cao 1,9 km.
Do Quân đội Hoa Kỳ tiếp tục sử dụng đảo san hô Wake cho các chương trình thử nghiệm tên lửa, vào ngày 1 tháng 10 năm 1994, Bộ Tư lệnh Phòng thủ Tên lửa và Không gian Lục quân Hoa Kỳ (USASSDC) đã tiếp quản quyền quản lý hòn đảo này từ Không quân. Trước đó, USASSDC đã hoạt động tại đây từ năm 1988 để xây dựng các cơ sở phóng và hỗ trợ Starbird. Sau khi chuyển giao, hòn đảo nằm cách đảo san hô Kwajalein 690 dặm (1.110 km) về phía bắc, chính thức trở thành một địa điểm phóng tên lửa thuộc Trường bắn Kwajalein, với tên gọi Trung tâm Phóng Đảo Wake.
Chiến dịch Trở về Nhanh chóng
Tháng 7 năm 1995, quân đội Hoa Kỳ triển khai "Chiến dịch Trở về Nhanh chóng" (Joint Task Force Quick Return) tại đảo Wake nhằm tiếp nhận, chăm sóc y tế và cung cấp nhu yếu phẩm cho 147 người Trung Quốc nhập cư trái phép. Trước đó, ngày 3 tháng 7, tàu Jung Sheng số 8 chở nhóm người này (xuất phát từ Quảng Châu từ ngày 2 tháng 6) đã bị Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hoa Kỳ chặn bắt ở phía nam Hawaii. Đến ngày 7 tháng 8, toàn bộ nhóm người đã được hồi hương an toàn về Trung Quốc bằng máy bay thương mại. Tiếp đó, từ ngày 10 tháng 10 đến ngày 21 tháng 11 năm 1996, đảo Wake tiếp tục được sử dụng làm địa điểm tập kết trong "Chiến dịch Marathon Thái Bình Dương". Chiến dịch này nhằm phối hợp hồi hương một nhóm hơn 113 người Trung Quốc nhập cư trái phép khác, những người đã bị bắt giữ trước đó trên tàu buôn lậu người Xing Da tại khu vực Đại Tây Dương, gần đảo Bermuda.

Không quân Hoa Kỳ giành quyền kiểm soát


Ngày 1 tháng 10 năm 2002, quyền quản lý hành chính và hỗ trợ Đảo Wake được chuyển giao từ Lục quân sang Không quân Hoa Kỳ, cụ thể là Sư đoàn 15 thuộc PACAF tại Căn cứ Hickam, Hawaii (đơn vị từng quản lý đảo giai đoạn 1973–1994). Dù vậy, Cơ quan Phòng thủ Tên lửa vẫn tiếp tục vận hành Trung tâm Phóng tại đây. Đồng thời, Khu Thử nghiệm Ronald Reagan của Lục quân vẫn duy trì các bệ phóng và bảo đảm các dịch vụ thiết bị, thông tin, an ninh cùng an toàn bay.
Ngày 31 tháng 8 năm 2006, siêu bão Ioke với sức gió giật tới 190 dặm/giờ đã càn quét đảo Wake, gây thiệt hại cho động vật hoang dã, hệ thống điện, xử lý nước thải và sân golf tại Heel Point. Dù vậy, mức độ tàn phá thực tế vẫn nhẹ hơn dự đoán khi đường băng của đảo phần lớn vẫn nguyên vẹn.
Ngày 6 tháng 1 năm 2009, Tổng thống George W. Bush ký Tuyên bố Tổng thống thành lập Khu tưởng niệm Quốc gia Biển Quần đảo Xa xôi Thái Bình Dương nhằm bảo tồn môi trường biển quanh các đảo Wake, Baker, Howland, Jarvis, Johnston, Kingman và Palmyra. Theo đó, Bộ Nội vụ quản lý vùng biển gần cùng các vùng đất nổi, còn Cơ quan Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia (NOAA) quản lý nghề cá ngoài phạm vi 12 hải lý. Tiếp đó, ngày 16 tháng 1, Bộ trưởng Nội vụ Dirk Kempthorne ra Lệnh số 3284, quyết định quản lý khu vực đảo Wake như một Khu bảo tồn Động vật hoang dã Quốc gia, nhưng việc quản lý đất nổi của Cơ quan Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ chỉ bắt đầu sau khi thỏa thuận hiện tại với Bộ Không quân kết thúc.
Ngày 1 tháng 10 năm 2010, Nhóm Hỗ trợ Không quân 611 (ASG) thuộc Không quân số 11, đóng tại Căn cứ Liên hợp Elmendorf-Richardson (Anchorage, Alaska), đã tiếp quản quyền quản lý Đảo Wake từ Sư đoàn 15. Việc tiếp quản này giúp đơn vị có thêm điều kiện triển khai các dự án thực địa trong mùa đông, thời điểm các hoạt động tại Alaska bị hạn chế. Hiện nay, Nhóm ASG 611 đã được đổi tên thành Trung tâm Hỗ trợ Khu vực Lực lượng Không quân Thái Bình Dương.

Ngày 27 tháng 9 năm 2014, Tổng thống Mỹ Barack Obama ban hành Sắc lệnh Hành pháp 9173, mở rộng Khu tưởng niệm biển quốc gia Quần đảo xa xôi Thái Bình Dương lên toàn bộ ranh giới vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của mỗi đảo. Quyết định này đã nâng diện tích khu tưởng niệm tại Đảo Wake từ 39.070 km² lên 433.400 km². Cũng trong năm 2014, các sà lan đã vận chuyển 3.300 tấn chất thải rời khỏi các hòn đảo này.
Ngày 1 tháng 11 năm 2015, cuộc thử nghiệm hệ thống phòng thủ tên lửa phức tạp mang mật danh FTO-02 E2 đã diễn ra tại đảo Wake và các vùng biển lân cận. Sự kiện trị giá 230 triệu USD này quy tụ hàng loạt công nghệ hiện đại, bao gồm hệ thống THAAD, hai radar AN/TPY-2, hệ thống chỉ huy của Lockheed Martin và tàu khu trục USS John Paul Jones trang bị radar AN/SPY-1. Mục tiêu của chiến dịch là đánh giá khả năng phối hợp giữa Hệ thống Aegis và THAAD trước một cuộc tấn công đồng thời từ ba mục tiêu: một tên lửa đạn đạo tầm trung, một tên lửa đạn đạo tầm ngắn và một tên lửa hành trình. Kết quả, hệ thống THAAD trên đảo Wake đã đánh chặn thành công mục tiêu tầm ngắn được phóng từ máy bay vận tải C-17. Đồng thời, cả THAAD và tàu khu trục USS John Paul Jones cũng phối hợp phóng tên lửa tiêu diệt gọn mục tiêu tầm trung do một chiếc C-17 thứ hai kích hoạt.
Năm 2017, các nhà thầu và nhân viên quân đội Thái Lan tại đảo Wake đã tổ chức lễ Songkran vào tháng 4 và Ngày Quốc vương vào tháng 12. Dù nỗ lực diệt trừ quần thể ước tính 2 triệu con chuột, việc săn chuột đêm vẫn là hoạt động phổ biến của cư dân nơi đây.
Đầu năm 2024, sóng lớn gây ngập lụt nhiều ký túc xá và nhà ăn trên đảo. Căn cứ Roi-Namur của Hoa Kỳ ở phía nam cũng bị hư hại do lũ lụt.
Chính phủ

Ngày 24 tháng 6 năm 1972, theo thỏa thuận giữa Bộ Nội vụ và Bộ Không quân, Không quân Mỹ chính thức tiếp quản quản lý dân sự đảo Wake.
Theo Bộ luật Đảo Wake, Bộ trưởng Không quân Hoa Kỳ ủy quyền quản lý dân sự tại đây cho Cố vấn Pháp lý của Không quân. Cơ quan này nắm giữ thẩm quyền hành chính, pháp lý và tư pháp, đồng thời có quyền bổ nhiệm thẩm phán cho các Tòa án và Tòa phúc thẩm tại Đảo Wake.
Cố vấn pháp lý đã ủy quyền một số thẩm quyền cho Tư lệnh Đảo Wake (hiện do Tư lệnh Phân đội 1, Trung tâm Hỗ trợ Khu vực Lực lượng Không quân Thái Bình Dương đảm nhiệm). Với vai trò đại diện này, Tư lệnh có quyền cấp giấy phép, đăng ký, bổ nhiệm sĩ quan an ninh và công chứng viên. Ngoài ra, vị trí này cũng chịu trách nhiệm áp đặt lệnh cách ly, ban hành quy định giao thông, chỉ đạo sơ tán, kiểm tra và thực hiện các chức năng quản lý khác trên đảo.
Vì đảo Wake là một sân bay quân sự đang hoạt động, chỉ huy tại đây là sĩ quan cấp cao điều hành toàn bộ các hoạt động trên đảo.
Đế quốc Nhật Bản quản lý đảo san hô này từ ngày 23 tháng 12 năm 1941 đến ngày 4 tháng 9 năm 1945.
Hoa Kỳ quản lý đảo này từ ngày 17 tháng 1 năm 1899, khi nó vô chủ và không có người ở.
Vận tải
Hàng không

Sân bay Đảo Wake do Không quân Hoa Kỳ vận hành nhằm phục vụ các hoạt động quân sự và phóng tên lửa tại khu vực Tây Thái Bình Dương. Với đường băng dài 3.000 m, nơi đây còn là điểm hạ cánh khẩn cấp cho cả máy bay quân sự lẫn thương mại. Dù chỉ có một chuyến bay định kỳ mỗi hai tuần, sân bay này vẫn đón khoảng 600 lượt máy bay mỗi năm.
Năm 2020, đường băng và các cơ sở hỗ trợ đã được hiện đại hóa.
Cảng
Mặc dù đảo Wake nhận tiếp tế bằng tàu biển và sà lan, nhưng kênh tàu giữa đảo Wilkes và Wake quá hẹp và nông nên tàu lớn không thể cập bến. Để chuyển hàng hóa từ các tàu neo đậu ngoài khơi vào xưởng đóng tàu trong cảng, nhà thầu Hỗ trợ Hoạt động Căn cứ (BOS) phải duy trì ba sà lan đổ bộ nhỏ. Hệ thống vòi phun cũng được sử dụng để bơm xăng và nhiên liệu JP-5 vào các bể chứa trên đảo Wilkes. Hiện tại, các sà lan đổ bộ và thuyền câu cá thể thao đều neo đậu tại bến du thuyền. Trước đó, một kênh tàu ngầm đã được lên kế hoạch xây dựng tại đảo Wilkes nhưng mới chỉ hoàn thành một phần thì Thế chiến II bùng nổ.
Đường


Việc đi lại trên đảo Wake do các nhà thầu hoặc chính phủ quản lý. Trục giao thông chính là đường nhựa hai làn chạy dọc đảo Wake đến cầu nối sang đảo Wilkes. Cây cầu sang đảo Peale (bị cháy năm 2002) đã được sửa chữa từ năm 2003, đảm bảo tải trọng cho xe hạng nặng. Khu vực bến du thuyền và các điểm hạ thủy được kết nối bằng mạng lưới đường nhựa kết hợp sỏi san hô. Tuyến đường nhựa sang đảo Wilkes kết thúc tại khu chứa dầu, tiếp nối bằng đường sỏi san hô đến cực tây của đảo; đoạn gần kênh tàu ngầm cũ thường bị ngập do sóng lớn. Nhìn chung, hệ thống đường bộ tại đây chủ yếu phục vụ xe tốc độ thấp và tải trọng nhẹ. Dù vậy, tuyến đường chính nối từ sân bay phía nam đến khu hậu cần phía bắc luôn được bảo trì tốt, đáp ứng mọi nhu cầu vận chuyển bằng đi bộ, xe đạp, xe điện, ô tô và các loại xe tải, thiết bị chuyên dụng.
Một con đường san hô nghiền rộng khoảng 9 m chạy dọc chu vi là tuyến đường chính nối đảo Wilkes với phần lớn đảo Wake. Trước đây, đảo Wake và Peale từng được kết nối bằng một cây cầu gỗ dài 137 m từ thời Thế chiến II. Tuy nhiên, do cây cầu này hiện không còn nữa, người ta thường di chuyển giữa hai đảo bằng thuyền kayak.
Yêu sách lãnh thổ

Sau năm 1899, không có khiếu nại hay yêu sách nào về đảo Wake. Khi Hoa Kỳ phát hiện người săn chim Nhật Bản tại đây và chất vấn, phía Nhật Bản đã ra công hàm khẳng định không có chủ quyền đối với hòn đảo. Năm 1902, Bộ trưởng Takahira Kogorō xác nhận lại điều này, đồng thời bày tỏ mong muốn công dân Nhật Bản hoạt động hòa bình tại đây sẽ được bảo vệ.(xem thêm Thỏa thuận Root–Takahira) Vấn đề đảo Wake chỉ phát sinh vào Thế chiến II, khi Nhật Bản chiếm đóng nơi này từ ngày 23 tháng 12 năm 1941 đến ngày 4 tháng 9 năm 1945.
Sau 75 năm không có tranh chấp, vào năm 1973, người Marshallese thuộc Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương (vùng đất từng do Đức, Nhật và sau đó là Hoa Kỳ quản lý từ sau Thế chiến II) đã chính thức đưa ra yêu sách chủ quyền đối với đảo Wake, nơi họ gọi là Ānen Kio (hoặc Enen-kio). Tại Đại hội Micronesia năm 1973 ở Saipan, các nhà lập pháp Marshallese khẳng định hòn đảo này từ xưa đến nay luôn thuộc sở hữu của họ. Yêu sách này dựa trên các bài hát và truyền thống truyền miệng qua nhiều thế hệ, ghi lại những chuyến hải trình cổ xưa đến Wake để hái lượm và thu thập xương cánh chim thiêng cho nghi lễ xăm mình truyền thống. Đến năm 1990, trước đề xuất của Quốc hội Mỹ về việc sáp nhập đảo Wake vào lãnh thổ Guam, Tổng thống Quần đảo Marshall khi đó là Amata Kabua đã một lần nữa tái khẳng định chủ quyền, nhấn mạnh Ānen Kio là địa danh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong văn hóa tâm linh của quốc gia này.
Vương quốc EnenKio là một vi quốc gia tự xưng, tuyên bố chủ quyền đối với Đảo Wake nhưng không được bất kỳ quốc gia hay tổ chức quốc tế nào công nhận. Trên thực tế, trang web chống gian lận Quatloos! đã định danh đây là một tổ chức lừa đảo. Vào năm 1998, chính phủ Quần đảo Marshall từng ra thông báo chính thức khẳng định các tuyên bố chủ quyền của EnenKio là hoàn toàn giả mạo. Đến năm 2000, Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa Kỳ (SEC) cũng đã kịp thời ngăn chặn Robert Moore là người tự xưng là người đứng đầu EnenKio, khi ông này cố tình phát hành trái phiếu gian lận và hộ chiếu dưới danh nghĩa quốc gia không tồn tại này.
Di tích lịch sử quốc gia Hoa Kỳ và NRHP
Sau cuộc đánh giá đầu thập niên 1980 của Cục Công viên Quốc gia về các nguồn tài nguyên văn hóa Thế chiến II trên các đảo Wake, Wilkes và Peale, Đảo Wake đã chính thức được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia vào ngày 16 tháng 9 năm 1985. Danh hiệu này, cùng với việc được đưa vào Sổ đăng ký Địa điểm Lịch sử Quốc gia, giúp bảo tồn các hiện vật, địa điểm liên quan đến Thế chiến II tại Thái Bình Dương và kỷ nguyên hàng không xuyên Thái Bình Dương trước chiến tranh.


Các vật phẩm lịch sử trên đảo bao gồm:
- Một số xác tàu cũ, bao gồm ít nhất sáu tàu từ Thế chiến II và tàn tích của một số tàu buồm.
- Các hầm trú ẩn và hiện vật từ các căn cứ quân sự của Mỹ và Nhật Bản thời Thế chiến II, chẳng hạn như lô cốt, hầm trú ẩn và ụ súng.
- Các hiện vật văn hóa bổ sung từ tù binh chiến tranh, đài tưởng niệm và các công trình khác.
- Máy bay thời Thế chiến II chìm dưới nước trong các rạn san hô.
Bên cạnh nguy cơ từ bom mìn chưa nổ (UXO) còn sót lại trên các đảo san hô và rạn san hô, hệ thống công trình và vị trí đặt súng bằng bê tông cốt thép tại đây cũng đang bị không khí biển mặn ăn mòn nghiêm trọng. Trước đó, một chiến dịch khảo sát và hủy nổ lượng lớn UXO nguy hiểm này đã được thực hiện thành công vào năm 2010.
Năm 2011, một nghiên cứu nhân chủng học đã phát hiện thêm hài cốt tại nơi hành quyết tù binh trên đảo Wake. Trong Thế chiến II, hòn đảo này là nơi chôn cất ban đầu của các binh sĩ Mỹ và Nhật tử trận. Đáng chú ý, hài cốt các nạn nhân trong vụ thảm sát năm 1943 đã bị đào xới và di táng qua nhiều ngôi mộ tập thể, trước khi được chuyển về Nghĩa trang Quốc gia Thái Bình Dương (Mỹ). Tại đây, năm 1953, một buổi lễ trang trọng đã được tổ chức ở Hawaii để an táng và vinh danh những người ngã xuống trong trận chiến hoặc khi là tù binh.
Trên đảo có nhiều đài tưởng niệm và di tích lịch sử nổi tiếng như tảng đá 98, tảng đá Nitro, Trạm chỉ huy, căn cứ thủy phi cơ Pan Am và các công sự cũ. Bên cạnh giá trị lịch sử, hòn đảo còn thu hút bởi thiên nhiên hoang sơ với khoảng 40.000 cá thể chim thuộc 12 loài khác nhau. Ngoài ra, quán Drifter's Reef Bar cũng là một điểm đến quen thuộc của những người đóng quân tại đây.
-
Đài tưởng niệm tù binh chiến tranh dân sự
-
Tảng đá được khắc bởi một tù binh chiến tranh nhằm ghi lại vụ thảm sát tù binh.
-
Đài tưởng niệm những người bảo vệ Wake trong Thế chiến II.
Những vụ đắm tàu


Các vụ đắm tàu trên hoặc rất gần đảo Wake:
- 1866 Libelle
- Ngày 31 tháng 8 năm 1870, tàu chở trà Dashing Wave
- Ngày 8 tháng 12 năm 1941
- Nisqually bị đánh chìm trong cuộc tấn công trên không
- Ngày 11 tháng 12 năm 1941
- Hayate, bị đánh chìm bởi pháo bờ biển
- Kisaragi bị đánh chìm trong cuộc tấn công bằng bom máy bay.
- Tàu ngầm Nhật Bản bị máy bay đánh chìm gần Wake.
- Ngày 23 tháng 12 năm 1941
- Tàu tuần tra số 32 (xem tàu tuần tra lớp số 31)
- Tàu tuần tra số 33 (xem tàu tuần tra lớp số 31)
- Tháng 2 năm 1942, ba tàu tuần tra của Nhật Bản bị đánh chìm và một máy bay tuần tra 4 động cơ bị bắn rơi cách Wake 5 dặm về phía đông.
- Amaske Maru (bị đánh chìm ngày 24 tháng 12 năm 1942)
- Suwa Maru (Vào tháng 3 năm 1943, nó bị trúng ngư lôi và mắc cạn trên đảo, sau đó bị phá hủy)
- Tàu chở dầu SS RC Stoner, ngày 5 tháng 9 năm 1967 (mắc cạn)
Ngoài các xác tàu đắm, còn có ít nhất 21 máy bay Thế chiến II bị mất tích xung quanh Wake.
Một ví dụ khác về tai nạn máy bay là chiếc Lockheed EC-130Q Hercules của Hải quân Hoa Kỳ (156176) đã rơi xuống nước cách Wake 1,5 km (0,93 mi) vào ngày 21 tháng 6 năm 1977, trong quá trình cất cánh.
Ghi chú
- Rauzon, Mark J. (2016). Isles of Amnesia: The History, Geography, and Restoration of America's Forgotten Pacific Islands. Honolulu: University of Hawaiʻi Press. tr. 158. ISBN 978-0-8248-4679-4.
Wake island's motto—'Where America's Day Really Begins'—is a response to Guam, which claims that it is where America's day begins. In fact, the rising sun first shines on America at Peacock Point, the easternmost tip of Wake Island, which is just west of the international date line. If the motto sounds a bit defensive, that's only natural, for defense has always been the main purpose of Wake.
- "Presidential Proclamation 8336" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2014.
- "Weekly Compilation of Presidential Documents: Monday, January 12, 2009 Volume 45 – Number 1, Page 14" (PDF). Fdsys.gpo.gov. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2011.
- Sloan, Bill (ngày 29 tháng 1 năm 2008). Given Up for Dead. New York, New York, United States of America: Random House. ISBN 978-0553585674.
- Spennemann, Dirk H. R. (2005). "The Wreck of the Libelle and other Early European Visitors to Wake Island". Micronesian Journal of the Humanities and Social Sciences (bằng tiếng Anh). 4 (2): 108–122. doi:10.48512/XCV8459197. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2024.
- Urwin, Gregory J. W. (2002). Facing Fearful Odds: The Siege of Wake Island. Lincoln, Nebraska: University of Nebraska Press. tr. 22–23. ISBN 0-8032-9562-6. OCLC 52430118. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2022.
- Pierpont, Joseph (ngày 18 tháng 9 năm 1797). "Discovery". The North American. Philadelphia, Pennsylvania, United States of America. tr. 3. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2024.
- Captain Ross A. Dierdorff, U. S. Navy (tháng 4 năm 1943). "Pioneer Party—Wake Island". Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2023.
- ^ History and Ornithological Journals of the Tanager Expedition of 1923 to the Northwestern Hawaiian Islands, Johnston and Wake Islands, Storrs L. Olson, National Museum of Natural History, Smithsonian Institution, Washington, DC, February 1996
- Spiller, Harry (2009). American POWs in World War II: twelve personal accounts of captivity by Germany and Japan. Jefferson, N.C: McFarland & Co. ISBN 978-0-7864-4275-1.
- Bryan, E.H. Jr. (ngày 15 tháng 5 năm 1959). "Notes on the geography and natural history of Wake Island" (PDF). Atoll Research Bulletin. 66: 1–22. doi:10.5479/si.00775630.66.1. OCLC 77749310. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2017.
- ^ "Education Resources: Regional Information, Wake Island | PacIOOS". Pacific Islands Ocean Observing System (PacIOOS) (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2023.
- "Wake Atoll | U.S. Department of the Interior". www.doi.gov (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 6 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2024.
- "Wake Island, Pacific Ocean". earthobservatory.nasa.gov (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2023.
- "Wake Atoll National Wildlife Refuge". FWS.gov (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2023.
- US Department of Commerce, National Oceanic and Atmospheric Administration. "Deepwater Wonders of Wake: Geologic Overview of the West Pacific: NOAA Office of Ocean Exploration and Research". oceanexplorer.noaa.gov (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2023.
- ^ "Wake Atoll". doi.gov (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 6 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2023.
- ^ Cressma, Robert J. "A Magnificent Fight: Marines in the Battle for Wake Island". Marines in World War II Commemorative Series. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2023.
- "21. The never-completed submarine channel started at the beginning of..." ResearchGate. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2023.
- ^ Lobel, Phillip S.; Lobel, Lisa Kerr (2008), "Aspects of the Biology and Geomorphology of Johnston and Wake Atolls, Pacific Ocean", trong Riegl, Bernhard M.; Dodge, Richard E. (biên tập), Coral Reefs of the USA (bằng tiếng Anh), quyển 1, Dordrecht: Springer Netherlands, tr. 655–689, doi:10.1007/978-1-4020-6847-8_17, ISBN 978-1-4020-6846-1
- McCloskey, Meagan (ngày 16 tháng 9 năm 2006). "Military airfield at Wake Island still usable after Super Typhoon Ioke". Stars & Stripes. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2021.
- "Summary of Monthly Normals 1991–2020". Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2023.
- "xmACIS2". National Oceanic and Atmospheric Administration. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2024.
- ^ "1967 Central Pacific Tropical Cyclone season". Central Pacific Hurricane Center, National Oceanic and Atmospheric Administration. ngày 4 tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2011.
- "'Super' Typhoon Slams Tiny Wake Island". Fox News Channel. ngày 1 tháng 9 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2008.
- 'Siêu' bão đập vào Đảo Wake tí hon
- "Monster' Typhoon Ioke Makes Direct Hit on Wake Island". VOA News. ngày 31 tháng 10 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014.
- Bão khổng lồ Ioke đánh trực tiếp vào Đảo Wake
- Vadnais, Chris (ngày 15 tháng 9 năm 2006). "Airmen add up damage at Wake Island". Air Force Print News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2021.
- ^ Griffiths, Richard; Wegmann, Alex; Hanson, Chad; Keitt, Brad; Howald, Gregg; Brown, Derek; Tershy, Bernie; Pitt, William; Moran, Matthew; Rex, Kristen; White, Susan; Flint, Beth; Torr, Nick (2014). "The Wake Island Rodent Eradicaation – Part Success, Part Failure, but Wholly Instructive". Proceedings of the Vertebrate Pest Conference. 26. doi:10.5070/V426110487. S2CID 86982575.
- "Wake Island". BirdLife Data Zone. BirdLife International. 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2021.
- Rauzon, Mark J.; Boyle, David; Everett, William T.; Gilardi, John (2008). "The Status of the Birds of Wake Atoll" (PDF). Atoll Research Bulletin. 561: 25. doi:10.5479/si.00775630.561.1. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2023.
- Rauzon, Mark J.; Everett, Wlliam T.; Boyle, David; Bell, Louise; Gilardi, John (2008). "Eradication of feral cats at Wake Atoll". Atoll Research Bulletin. 560: 1–22. doi:10.5479/si.00775630.560.1.
- Schmidt, Anastasia (ngày 26 tháng 4 năm 2017). "Air Force partners for environmental conservation on Wake Atoll". Joint Base Elmendorf-Richardson. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2021.
- US Department of Commerce, National Oceanic and Atmospheric Administration. "Deepwater Wonders of Wake: Wake Island and Pacific Remote Islands Marine National Monument Management: NOAA Office of Ocean Exploration and Research". oceanexplorer.noaa.gov (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2023.
- "Wake Atoll National Wildlife Refuge | U.S. Fish & Wildlife Service". fws.gov (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2023.
- "Welcome to Shark Island: Wake Atoll". Discovery (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2023.
- Schmidt, Anastasia (ngày 19 tháng 4 năm 2017). "Air Force members celebrate Thai New Year and Water Festival at Wake Island". Joint Base Elmendorf-Richardson. 11th Air Force Public Affairs. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2017.
- Hansen, Amy (ngày 28 tháng 10 năm 2011). "Population of Wake doubles during recent TRANSPAC". Joint Base Elmendorf–Richardson. 11th Air Force Public Affairs. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2021.
- "Snapshot of Oceania: Wake Island". sheppardsoftware.com. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2023.
- "The Battle of Wake Island: Nation's Morale Lifted in 1941". The National WWII Museum | New Orleans. ngày 23 tháng 12 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2023.
- ^ "Massacre on Wake Island | Naval History Magazine – February 2001 Vol. 15 Number 1". tháng 2 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2023.
- Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "guampedia.com" - ^ "Wake Island 1975". Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2011.
- ^ "A Wake Island Story". c141heaven.info/. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2015.
- ^ "Air Force members celebrate Thai New Year and Water Festival at Wake Island". Joint Base Elmendorf-Richardson (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2023.
- "Enen-Kio: Đảo hoa Kio" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2007.
- "Giới thiệu về Ennenkio". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2007.
- Thư tuyên bố bác bỏ từ Chính phủ Cộng hòa Quần đảo Marshall
- "Education Resources: Regional Information, Wake Island". Pacific Islands Ocean Observing System (PacIOOS) (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2023.
- Olson, S. L.; Rauzon, M. J. (2011). "The extinct Wake Island Rail Gallirallus wakensis: a comprehensive species account based on museum specimens and archival records". Wilson Journal of Ornithology. 123 (4): 663–689. doi:10.1676/11-029.1. S2CID 83517404.
- Spennemann, D. H. R. (tháng 10 năm 1997). "Distribution of Rat Species (Rattus spp.) on the Atolls of the Marshall Islands: Past and Present Dispersal". Atoll Research Bulletin. 446 (446): 4. doi:10.5479/si.00775630.446.1. hdl:10088/5907. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2022.
- ^ Heine, Dwight; Anderson, Jon A. (1971). "Enen-kio: Island of the Kio Flower". Micronesian Reporter. 19. Public Information Office, Trust Territory of the Pacific Islands: 34–37. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2023.
- Sharp, Andrew (1960). The Discovery of the Pacific Islands. Oxford, England: Clarendon Press. tr. 47. ISBN 0-19-821519-3. OCLC 418115. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2022.
- Brand, Donald D. (1967). "Geographical Explorations by the Spaniards". Trong Friis, Herman Ralph (biên tập). The Pacific Basin: A History of Its Geographical Explorations. The American Geographical Society. tr. 133.
- La Austrialia del Espíritu Santo. Volume 1: The journal of Fay Martin de Munilla O.F.M. and Other Documents Relating to the Voyage of Pedro Fernández de Quiró to the South Sea (1605–1606) and the Franciscan Missionary Plan (1617–1627). Surrey, England: Ashgate Publishing Limited. 2010 [1966]. tr. 110. ISBN 978-1-4094-1731-6. OCLC 874143292.
- Forbes, David W., biên tập (1999), Hawaiian National Bibliography 1780–1900, Vol. I: 1780–1830, Honolulu: University of Hawaiʻi Press, tr. 208, ISBN 9780824820428.
- "Chào đón đến Đảo Wake". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2007.
- "Wake Island". Janeresture.com. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2011.
- "Reynold's Report to the House of Representatives". Mysite.du.edu. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2011.
- Narrative of the United States Exploring Expedition: During the Years 1838, 1839, 1840, 1841, 1842, Volume 5, Charles Wilkes, C. Sherman, 1849, p. 267
- ^ "The wreck of the Libelle and other early European visitors to Wake Island", Spennemann, D. H. R., Micronesian Journal of the Humanities and Social Sciences, 4:108–123, 2005
- "Den Tod vor Augen: Die unglückliche Reise der Bremer Bark LIBELLE in den Jahren 1864 bis 1866", Bernd Drechsler, Thomas Begerow, Peter Michael Pawlik, Hauschild Verlag, Bremen, 2007
- "Return of the Hokulele", The Friend, Honolulu, Volume 1, Number 8, August 1, 1867, Edition 1, p. 72
- "Libelle Wreckers", Hawaiian Gazette, Honolulu, Wednesday, May 27, 1868, p. 1
- "Total Loss of Barque Dashing Wave, and Rescue of the Crew", The Sydney Morning Herald, Monday, January 23, 1871, p. 4
- "GAO/OGC-98-5 – U.S. Insular Areas: Application of the U.S. Constitution". U.S. Government Printing Office. ngày 7 tháng 11 năm 1997. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2013.
- Rongxing Guo (2006). Territorial Disputes and Resource Management: A Global Handbook. Nova Publishers. tr. 255. ISBN 9781600214455. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2015.
- Telegraph Age, Volume 20, University of Minnesota, 1903, p. 161
- "Japs Have Island", The Honolulu Star, August 26, 1902, p. 6
- ^ The Marcus Island Case, The New York Times, August 20, 1902
- "Marines Set To Oust Japs From Wake", The Binghamton Press, Saturday Evening, July 15, 1944, p. 13
- Japanese Economic Exploitation of Central Pacific Seabird Populations, 1898–1915, Spennemann, Dirk H. R., Pacific Studies, Vol. 21, Nos. 1/2, March/June 1998
- Rescued from Wake Island, Survivors of the Toyoshima Found by the Benjamin Constant, The Pacific Commercial Advertiser, Honolulu, Friday, June 26, 1908, p. 30.
- Sea-Power in the Pacific: A Study of the American-Japanese Naval Problem, Hector C. Bywater, Houghton Mifflin Company, Boston, 1921
- Wake Island, Lieutenant Commander Sherwood Picking, United States Naval Institute Proceedings, Volume 48, 1922, p. 2075
- "Chronicling Wake Island". Panam.org. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2021.
- Harold Evans (ngày 24 tháng 2 năm 2005). "Trippe the Light Fantastic". The Wall Street Journal.
- China Clipper: The Age of the Great Flying Boats, Robert Gandt, Naval Institute Press, September 23, 2013
- "What's New in World of Airplanes and Air Transportation, Toil on Desolate Isles to Make Pacific Airway Path". Chicago Tribune. ngày 7 tháng 7 năm 1935. tr. 70. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2015.
- Robert Daley (1980). An American saga: Juan Trippe and his Pan Am empire. Random House, Incorporated. ISBN 978-0-394-50223-6.
- ^ Davidson, Joy; McAllaster, Wendie (2011). Historic American Landscapes Survey: Wake Island (PDF) (Báo cáo). Washington, D.C.: National Park Service. tr. 6. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2021.
- Bonita L. Gilbert (2012). Building for War: The Epic Saga of the Civilian Contractors and Marines of Wake Island in World War II. Casemate. ISBN 978-1-61200-129-6. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2017.
- ^ Riding the Reef – A Pan American Adventure with Love, Bert Voortmeyer, Carol Nickisher, Paladwr Press, 2005
- ^ Diesel to Run on Wake Island Line, Popular Science, April 1936, Vol. 128, No. 4, p. 40
- "Of Flying Clouds and China. Clippers: Pacific Steppingstones: Wake". ngày 29 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2021.
- "Chronicling Wake Island". panam.org. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2023.
- Nice Clean Gardening, Frank J. Taylor, "The Rotarian", July 1939, p. 14 Nice Clean Gardening Lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2023 tại Wayback Machine
- "War Boat: A Heroic Tale". Panam.org. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2021.
- "Pacific Wrecks – Martin M-130 'Philippine Clipper' Registration Number NC14715". pacificwrecks.com. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2023.
- Urwin, Gregory J. W.; Urwin, Cathy Kunzinger (ngày 1 tháng 2 năm 2002), "ACKNOWLEDGMENTS", History of the 33d Iowa Infantry Volunteer Regiment, 1863–6, University of Arkansas Press, tr. xiii–xv, doi:10.2307/j.ctv1p3xk38.5, lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2024, truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2023 Pages 12-13
- Melson, Major Charles D. "The Approach of War". Condition Red: Marine Defense Battalions in World War II. United States Marine Corps History Division. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010.
- L, Klemen (1999–2000). "Chronology of the Dutch East Indies, December 1941". Forgotten Campaign: The Dutch East Indies Campaign 1941–1942. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2015.
- "Wake Island Remembered December 8th | Morrison Knudsen Foundation, Inc". Mk-foundation.org. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2021.
- ^ "A Magnificent Fight: Marines in the Battle for Wake Island (Still No Help)". nps.gov. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2023.
- "Naval Defensive Sea Areas; Naval Airspace Reservations, Areas Under Navy Administration, and the Trust Territory of the Pacific Islands". Govinfo.gov. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
- Shettle 2001, tr. 88.
- Urwin, Gregory. "Battle of Wake Island". Encyclopædia Britannica. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2016.
- "A Gallant Defense: The Battle of Wake Island". ThoughtCo (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2023.
- ^ "Triton III (SS-201)". NHHC (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2023.
- ^ "RO-66". iijnsubsite.info. 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2020.
- ^ Hackett, Bob; Kingsepp, Sander (2017). "Sensuikan: IJN Submarine RO-66: Tabular Record of Movement". combinedfleet.com. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2020.
- ^ Hackett, Bob; Kingsepp, Sander (2017). "Sensuikan: IJN Submarine RO-62: Tabular Record of Movement". combinedfleet.com. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2020.
- Arthur Herman. Freedom's Forge: How American Business Produced Victory in World War II, pp. 170–174, Random House, New York, 2012. ISBN 978-1-4000-6964-4.
- "Adm. Winfield CunninGuam; Commanded at Wake island". The New York Times. ngày 6 tháng 3 năm 1986. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2017.
- "Legends". Usmilitary.about.com. ngày 7 tháng 12 năm 1941. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2011.
- "Joyous Finale". Time. ngày 17 tháng 9 năm 1945. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2007.(cần đăng ký mua)
- Boller, Paul F. Jr.; George, John (1989). They Never Said It: A Book of Fake Quotes, Misquotes, and Misleading Attributions. New York: Oxford University Press. tr. 20. ISBN 0-19-505541-1.
- John J. Sbrega (2015). The War Against Japan, 1941–1945: An Annotated Bibliography. Taylor & Francis. tr. 424–. ISBN 978-1-317-43178-7. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2017.
- "A Magnificent Fight: Marines in the Battle for Wake Island (Humbled by Sizeable Casualties)". nps.gov. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2023.
- "On Eternal Patrol – USS Triton (SS-201)". oneternalpatrol.com. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2023.
- Conville, Martin (ngày 23 tháng 5 năm 1943). "Full Story of Desperate Wake Island Battle Told". Los Angeles Times. tr. C5. ProQuest 165422622.
- ^ Lundstrom, John B. (ngày 1 tháng 7 năm 2005). The First Team: Pacific Naval Air Combat from Pearl Harbor to Midway. Naval Institute Press. ISBN 9781612511665. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2023 – qua Google Books.
- ^ "Search for closure, accurate account of Wake Island massacre continues". Stars and Stripes (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2023.
- Yaklitch, Mike; Alsleben, Allan; Takizawa, Akira (1999–2000). "Japanese Special Naval Landing Forces". Forgotten Campaign: The Dutch East Indies Campaign 1941–1942. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2021.
- "A Magnificent Fight: Marines in the Battle for Wake Island". Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2022.
- Lt. Col. R. D. Heinly Jr. "The Defense of Wake" (PDF). Usmcu.edu. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
- "Japanese execute nearly 100 American POWs on Wake Island". History.com. ngày 5 tháng 11 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2021.
- Takizawa, Akira; Alsleben, Allan (1999–2000). "Japanese garrisons on the by-passed Pacific Islands 1944–1945". Forgotten Campaign: The Dutch East Indies Campaign 1941–1942. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2016.
- "Dirk H.R. Spennemann, 8-inch Coastal Defense Guns". marshall.csu.edu.au. ngày 9 tháng 10 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014.
- Morison, Samuel Eliot (2001). History of United States Naval Operations in World War II. University of Illinois Press. ISBN 0-252-06973-0.
- Parmet, Herbert S (2001). George Bush: The Life of a Lone Star Yankee. Transaction Publishers. ISBN 978-0-7658-0730-4. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2020.
- ^ "Return to Wake Island". Psywarrior.com. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Early Raids in the Pacific Ocean". NHHC (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2023.
- PacificWrecks.com. "Pacific Wrecks". pacificwrecks.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2023.
- "Japanese Transports". combinedfleet.com. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2023.
- Spencer Tucker (2012). Almanac of American Military History. ABC-CLIO. tr. 1491–. ISBN 978-1-59884-530-3. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2017.
- "Massacre on Wake Island". Goldtel.net. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2013.
- ^ "Monument Details". uswarmemorials.org. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2023.
- "Wake Rail (Hypotaenidia wakensis) – BirdLife species factsheet". Datazone.birdlife.org. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
- Olson, Storrs L.; Rauzon, Mark J. (tháng 12 năm 2011). "The Extinct Wake Island Rail Gallirallus wakensis: A Comprehensive Species Account Based on Museum Specimens and Archival Records". The Wilson Journal of Ornithology. 123 (4): 663–689. doi:10.1676/11-029.1. ISSN 1559-4491. S2CID 83517404. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2023.
- Jim Moran (2011). Wake Island 1941: A battle to make the gods weep. Bloomsbury Publishing. tr. 84, 92. ISBN 978-1-84908-604-2. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2017.
- Maj. Mark E. Hubbs, U.S. Army Reserve (Retired). "Massacre on Wake Island". Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011.
- "Sakaibara Shigematsu | Japanese military officer". Encyclopædia Britannica. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019.
- "'Dispose of Them': Massacre of American POWs in the Philippines". The National WWII Museum | New Orleans (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 7 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2023.
- Headsman (ngày 18 tháng 6 năm 2009). "1947: Shigematsu Sakaibara, "I obey with pleasure"". ExecutedToday.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2013.
- Administration, National Cemetery. "National Memorial Cemetery of the Pacific – National Cemetery Administration". cem.va.gov. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019.
- Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "www.combinedfleet.com" - ^ III, Peter Ayers Wimbrow (ngày 28 tháng 9 năm 2023). "POW's killed in response to U.S. bombing of Wake Island". Ocean City Today (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2023.
- ^ "Photographs: Written Historical and Descriptive Data : Wake Island Airfield, Terminal Building" (PDF). Lcweb2.loc.gov. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
- American Aviation Daily. American Aviation Associates. ngày 8 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2023.
- Pacific Air Lift, "Flying" magazine, Vol. 50, No. 2, February 1952, p. 29
- Harry S. Truman Museum & Library. "Special Counsel to the President Charles Murphy". Trumanlibrary.org. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2011.
- "750 On Wake Escape Death in Big Storm". Lodi News-Sentinel. ngày 17 tháng 9 năm 1952. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2013.
- ^ The Clipper publication. Atoll Island Ravaged by Wind and Rain but No One is Seriously Injured; Eyewitnesses Tell Story (September 25, 1952). Pan American World Airways Pacific-Alaska Division.
- Central Pacific Hurricane Center. Tropical Cyclones During the Years 1900–1952 (Báo cáo). United States National Oceanic and Atmospheric Administration's National Weather Service. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2012.
- ^ Dateline DX Association. "Wake Island History". Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2009.
- "Loran Station Wake Island". Loran history. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2009.
- The Clipper publication. Plans to Rebuild Wake are Already Under Way (September 25, 1952). Pan American World Airways Pacific-Alaska Division.
- E. H. Bryan, Jr. (ngày 15 tháng 5 năm 1959). "Atoll Research Bulletin No. 66" (PDF). National Academy of Sciences—National Research Council. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2009.
- ^ The Coast Guard Engineer's Digest (bằng tiếng Anh). Coast Guard. 1959. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2023.
- "Loran Station Wake Island". loran-history.info. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2023.
- "Loran Station Wake". loran-history.info. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2023.
- "Integrated Undersea Surveillance System (IUSS) History 1950–2010". IUSS/CAESAR Alumni Association. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2020.
- Subcommittee on Military Construction (March–April) (ngày 29 tháng 4 năm 1959). Military Construction Appropriations for 1960: Hearings. tr. 169–170. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2020.
- Subcommittee on Military Construction (May) (ngày 20 tháng 5 năm 1959). Military Construction Appropriations for 1960: Hearings. tr. 818, 824. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2020.
- "NH 74180 SS R.C. STONER, a Standard Oil Tanker". NHHC. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
- ^ Mobility, Support, Endurance, a Story of Naval Operational Logistics in the Vietnam War, 1965–68. 1972. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2023.
- Mud, Muscle, and Miracles: Marine Salvage in the United States Navy, C.A. Bartholomew, William I. Milwee, Naval History & Heritage Command, U.S. Government Printing Office, 2009, p. 282
- Oil Pollution on Wake Island from the Tanker R.C. Stoner, Reginald M. Gooding, National Marine Fisheries Service, Hawaii Area Fishery Research Center, 1971
- "Historic American Buildings Survey: Wake Island Airfield, Terminal Building (Building 1502)", National Park Service, HABS No. UM-2-A, December 2007, Washington, DC, p. 11
- Wake Island Lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine. The World Factbook. Central Intelligence Agency.
- Klimeš, Roman (tháng 1 năm 2000). "The Flag of Wake Island" (PDF). NAVA News. 33. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2021.
- "Former POW living in Oklahoma takes a bittersweet trip". Oklahoman.com. ngày 23 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2021.
- Clipper Flies Sentimental Journey : 747 Follows S. Pacific Route of Pan Am's Flying Boats, Los Angeles Times, November 24, 1985
- "Reagan Test Site". ngày 10 tháng 5 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2021.
- Burgess, John (ngày 4 tháng 11 năm 1992). "Another Orbital Sciences Rocket Failed Last Month, Pentagon Says". The Washington Post (bằng tiếng Anh). ISSN 0190-8286. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2021.
- de Gouyon Matignon, Louis (ngày 6 tháng 5 năm 2019). "Brilliant Pebbles and Outer Space Military Laws". Space Legal Issues. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2021.
- Baker, P.; Funari, A.V. (1992). Army Lightweight Exo-Atmospheric Projectile (LEAP) (Báo cáo). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2021.
- Walker, James A.; Bernstein, Lewis; Lang, Sharon (2003). Seize the High Ground: The Army in Space and Missile Defense (PDF). Historical Office, U.S. Army Space and Missile Defense Command. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2021.
- Ellyson, R.E.; Callahan, C.; Lee, Y.T. (tháng 10 năm 1996). "Medical care of illegal migrants intercepted on the high sea (Operation Prompt Return)". Military Medicine. 161 (10): 616–619. doi:10.1093/milmed/161.10.616. PMID 8918124.
- Smith, Paul J. (1999). "Military Responses to the Global Migration Crisis: A Glimpse of Things to Come". Fletcher Forum of World Affairs. 23 (2): 87. hdl:10427/76842. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2021.
- Wake Island returns to Air Force control, Jim Bennett, "The Kwajalein Hourglass", Volume 42, Number 78, Tuesday, October 1, 2002
- ^ "Airmen add up damage at Wake Island". Air Force (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 9 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2023.
- "Wake Island Airfield, Terminal Building, Wake Island". Historic Structures (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2023.
- "Establishment of the Pacific Remote Islands Marine National Monument" (PDF). U.S. Fish & Wildlife Service. ngày 6 tháng 1 năm 2009. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 25 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2020.
- "Proclamation 8336 of January 6, 2009 – Establishment of the Pacific Remote Islands Marine National Monument – By the President of the United States of America" (PDF). Federal Register. 74 (7). ngày 12 tháng 1 năm 2009. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015.
- Delegation of Management Responsibility for the Pacific Remote Islands Marine National Monument, Rose Atoll Marine National Monument and the Marianas Trench Marine National Monument, United States Department of the Interior Order Number 3284, Secretary of the Interior Dick Kempthorne, Washington, D.C., January 16, 2009
- "611th Air Support Group adds eight tropical Pacific locations". ngày 24 tháng 9 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
- "Proclamation 9173 of September 25, 2014 – Pacific Remote Islands Marine National Monument Expansion – By the President of the United States of America" (PDF). Federal Register. 79 (188). ngày 29 tháng 9 năm 2014. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015.
- ^ Quintans, Karina; Myers, Erik (ngày 20 tháng 9 năm 2022). "Environmental Rehabilitation on Wake Island". Society of American Military Engineers (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2023.
- "USS John Paul Jones participates in ballistic missile defense test : Hookele – Pearl Harbor – Hickam News". ngày 5 tháng 10 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
- "U.S. completes complex test of layered missile defense system". Reuters.com. ngày 2 tháng 11 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
- Downey, Kirstin (ngày 15 tháng 10 năm 2019). "The US Military Is Pouring Hundreds Of Millions Of Dollars Into Tiny Wake Island". Honolulu Civil Beat (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2023.
- "Wake Island recovering from flood". DVIDS (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2024.
- Subchapter N-Territorial and Insular Regulations, Part 935-Wake Island Code, 32 CFR Ch. VII (7-1-12 Edition), Government Printing Office, July 1, 2012
- ^ "HAF MISSION DIRECTIVE 1–14" (PDF). Static.e-publishing.af.mil. ngày 29 tháng 12 năm 2016. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
- "AFCEC leads major airfield modernization at Wake Island Airfield". DVIDS (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2024.
- ^ Integrated Flight Tests at Wake Atoll Proposed Environmental Assessment, Missile Defense Agency, US Army Space and Missile Defense Command/Army Forces Strategic Command and Teledyne Brown Engineering, Inc., February 2015
- "Battle of Wake Island | Operations & Codenames of WWII". codenames.info. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2023.
- "Life and Stabilization on Wake Atoll (Wake Island) –". McKay Lodge Conservation Laboratory (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 12 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2023.
- "Trust Territory of the Pacific Islands". Bureau of International Organization Affairs, Office of United Nations Political Affairs. ngày 1 tháng 1 năm 1964. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2023 – qua Google Books.
- "Encyclopedia of Arkansas". Encyclopedia of Arkansas. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2023.
- Marshall Islands, 2015 Country Review, CountryWatch Review, Houston, Texas, 2015, pg. 9
- Wake Island Lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine. The World Factbook. Central Intelligence Agency.
- Wake Island Claimed By Marshall Islanders, The Cameron Herald, Cameron, Texas, February 8, 1973, pg. 2
- The Far East and Australasia 2003, 34th Edition, Europa Publications, 2002, pg. 1144
- Robert Tillman (2002). Global Pirates: Fraud in the Offshore Insurance Industry. Northeastern University Press. tr. 116. ISBN 978-1-55553-505-6. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2017.
- "The Kingdom of EnenKio". Quatloos!. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2002. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017.
- "SECURITIES AND EXCHANGE COMMISSION v. Robert F. Moore, individually and doing business as The Kingdom of Enenkio, Civil No, 00-00651 SOM/LEK (D, Haw.)". U.S. Securities and Exchange Commission. ngày 26 tháng 10 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2001. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2017.
- "Walking on eggshells". The Australian. ngày 28 tháng 2 năm 2014.
- "Con Countries". India Today. ngày 30 tháng 9 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2017.
- "Marshall Islands Ministry of Foreign Affairs Declares "Kingdom of EnenKio" a Fraud". Quatloos!. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2017.
- "Wake Island". National Historic Landmark summary listing. National Park Service. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2007.
- ^ US Department of Commerce, National Oceanic and Atmospheric Administration. "Deepwater Wonders of Wake: Wake Island and Pacific Remote Islands Marine National Monument Management: NOAA Office of Ocean Exploration and Research". oceanexplorer.noaa.gov. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2023.
- ^ "Conserving the Monuments of Wake Island". ngày 12 tháng 5 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2023.
- "Search for closure, accurate account of Wake Island massacre continues". Stars and Stripes. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2023.
- ^ "11th AF Det. 1 Wake Island". 15wing.af.mil. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2023.
- "US ships lost in the Pacific during World War II". USMM.org. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2014.
- Deamerpublished, Kacey (ngày 10 tháng 8 năm 2016). "Scientists Dive to WWII-Era Japanese Warship: How to Watch Live". livescience.com. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2023.
- Jourdan, David (ngày 11 tháng 8 năm 2016). "World War Two Shipwreck Discovered! – Nauticos, LLC". Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2023.
- "Ship Wreck Suwa Maru - Wake Island - TracesOfWar.com". tracesofwar.com. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2023.
- [1]
- "NH 74180 SS R.C. STONER, a Standard Oil Tanker". NHHC. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2024.
- "The Battle of Wake Island: Nation's Morale Lifted in 1941". The National WWII Museum | New Orleans (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 12 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2023.
- "ASN Aircraft accident Lockheed EC-130Q Hercules 156176 Wake Island Airport (AWK)". aviation-safety.net. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2023.
Nguồn: “Đảo Wake” — Wikipedia tiếng Việt, theo giấy phép CC BY-SA 4.0. Cập nhật lần cuối: .
Xem bản gốc