Sử
Sử Việt Niên Biểu
Quay lại dòng thời gianTư liệu Lịch sử — Wikipedia Archive

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

"liên minh chính trị Việt Nam"

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Vai trò

Điều 9 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) quy định:

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động.

Trong các cuộc bầu cử quốc hội tại Việt Nam, các ứng cử viên đều phải được Mặt trận Tổ quốc phê chuẩn để đưa vào danh sách ứng cử viên. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc còn đảm nhiệm việc giám sát cuộc bầu cử.

Cơ quan ngôn luận: Báo Đại đoàn kết.

Trụ sở trước đây của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng (nay là trụ sở Thanh tra tỉnh Lâm Đồng) tại số 57, đường Quang Trung, phường Lâm Viên - Đà Lạt.

Thạc sĩ Nguyễn Khắc Giang thuộc nhóm nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) qua công trình nghiên cứu "Ước lượng chi phí kinh tế cho các tổ chức QCC ở Việt Nam" cho biết, Mặt trận Tổ quốc được hưởng nhiều ưu đãi từ nhà nước và xã hội, được phân bổ ngân sách hoạt động, tuy vậy, chi phí kinh tế và hiệu quả hoạt động của tổ chức này vẫn là một câu hỏi lớn chưa có lời đáp.

Lịch sử

Các tổ chức tiền thân

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, các lãnh đạo Đảng đã quyết định sẽ thành lập một tổ chức ngoại biên là Mặt trận dân tộc thống nhất, nhằm tập hợp và lãnh đạo quần chúng. Trong Án nghị quyết về vấn đề phản đế tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 10 năm 1930 đã nêu rõ sự cấp thiết phải thành lập Mặt trận thống nhất phản đế (một tên gọi được thay đổi của Mặt trận Dân tộc thống nhất). Ngay khi phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh nổ ra, ngày 18 tháng 11 năm 1930, Ban thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Hương Cảng, Trung Quốc ra Chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng minh, hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Về sau, ngày này trở thành ngày kỷ niệm truyền thống, còn gọi là Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Xô viết Nghệ Tĩnh bị chính quyền thực dân đàn áp khốc liệt, nhanh chóng tan rã. Các tổ chức của Đảng Cộng sản bị truy lùng và khủng bố, hoạt động Hội Phản đế Đồng minh cũng vì thế mà bị tê liệt.

Khi phong trào Mặt trận bình dân Pháp lên nắm quyền, có xu hướng thiên tả và cởi mở hơn tại thuộc địa. Các tổ chức của Đảng Cộng sản Đông Dương được phục hồi và hoạt động trở lại. Tháng 3 năm 1935, Đại hội Đảng lần thứ nhất họp tại Ma Cao, Trung Quốc đã thông qua nghị quyết về công tác Phản đế Liên minh, quyết định thành lập và thông qua điều lệ của tổ chức nhằm tập hợp tất cả các lực lượng phản đế toàn Đông dương. Điều lệ của Phản đế Liên minh rộng và linh hoạt hơn Điều lệ Hội Phản đế Đồng minh. Tháng 7 năm 1936, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Thượng Hải (Trung Quốc) đã quyết định thành lập Mặt trận Nhân dân Phản đế Đông Dương nhằm tập hợp rộng rãi các giai tầng, đảng phái, các đoàn thể chính trị, tôn giáo khác nhau để đấu tranh đòi những quyền dân chủ tối thiểu, phù hợp với Mặt trận Bình dân ở Pháp. Tháng 8 năm 1936, Đảng Cộng sản Đông Dương gửi bức thư ngỏ gửi cho Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp, bày tỏ sự đồng minh với nhân dân Pháp, kêu gọi ban hành một số quyền tự do dân chủ cơ bản cho nhân dân Đông Dương và hô hào "tất cả các đảng phái chính trị, tất cả các tầng lớp nhân dân Đông Dương tham gia Mặt trận nhân dân Đông Dương". Bức thư cũng nêu 12 nguyện vọng cụ thể làm cơ sở cho Đông Dương Đại hội, công khai việc tập hợp lực lượng của Mặt trận. Ngày 30 tháng 10 năm 1936, Mặt trận tuyên bố chính thức thành lập và phổ biến tài liệu Chung quanh vấn đề chính sách mới.

Từ tháng 9 năm 1937, một loạt các tổ chức ngoại vi của Mặt trận như Thanh niên Dân chủ Đông Dương, Hội Cứu tế bình dân, Công hội, Nông hội ra đời cùng với việc hoạt động công khai và nửa công khai của các tổ chức quần chúng như hội ái hữu, tương tế, các hội hoạt động âm nhạc,... Tháng 3 năm 1938, Hội nghị họp tại Bà Điểm (Gia Định) đã đổi tên Mặt trận Nhân dân Phản đế Đông Dương thành Mặt trận Thống nhất Dân chủ Đông Dương, gọi tắt là Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Sau khi chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp sụp đổ, chính quyền thực dân siết chặt hoạt động của các phong trào dân chủ. Tuy nhiên, dù rút vào bí mật, Đảng Cộng sản Đông Dương vẫn tiếp tục chỉ đạo các hoạt động công khai và bán công khai của Mặt trận, dần đưa từ hình thức phong trào, đi vào tính chất của một tổ chức.

Tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Tại Đông Dương, chính quyền thực dân ban bố tình trạng thời chiến, đàn áp thẳng tay Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Tháng 11 năm 1939, Hội nghị họp Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định; Đảng Cộng sản Đông Dương đã chuyển hướng chỉ đạo, chuyển các hoạt động của Mặt trận Dân chủ thành hoạt động của Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương, nhằm liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương, các giai tầng, đảng phái, cá nhân có tinh thần phản đế muốn giải phóng dân tộc chống đế quốc, phát triển dưới hình thức bí mật và công khai.

Việt Minh và Liên Việt

Năm 1940, quân Nhật kéo vào Đông Dương. Tại Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8 tại Pác Bó, Hà Quảng, Cao Bằng; theo đề nghị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận dân tộc thống nhất chống phát xít Pháp Nhật với tên gọi Mặt Trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, được thành lập ngày 19 tháng 5 năm 1941, lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ của Việt Minh và làm cờ tổ quốc "khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa". Chủ trương của Mặt trận bấy giờ là nhằm tranh thủ sự ủng hộ của lực lượng đồng minh (Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc), đồng thời tập hợp lực lượng, chờ thời cơ đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân.

Lực lượng Việt Minh phát triển nhanh chóng, trở thành lực lượng chính trị quan trọng giành chính quyền tại Việt Nam khi Thế chiến kết thúc và quân Nhật đầu hàng Đồng Minh. Ngày 16 và 17 tháng 8 năm 1945, Tổng bộ Việt Minh đã tổ chức Đại hội Quốc dân tại Tân Trào, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa, quyết định quốc kỳ, quốc ca và cử ra Ủy ban giải phóng dân tộc, tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Khi đã giành được chính quyền trên toàn quốc, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đại biểu Tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng đọc lời hiệu triệu đồng bào cả nước.

Khi quân Pháp tái chiếm Đông Dương, lực lượng Việt Minh là thành phần nòng cốt của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, huy động dân chúng kháng chiến chống Pháp. Trên thực tế, các đảng viên Cộng sản đều hoạt động dưới danh nghĩa cán bộ Việt Minh do Đảng Cộng sản Đông Dương đã tuyên bố tự giải tán. Do đó, nhằm mở rộng hơn nữa khối đoàn kết dân tộc, các lãnh đạo Cộng sản đã hình thành một Ban vận động thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, gọi tắt là Hội Liên Việt, gồm 27 người, với đại biểu Việt Minh là Hồ Chí Minh, chính thức ra mắt ngày 29 tháng 5 năm 1946.

Năm 1951, Đảng Lao động Việt Nam ra công khai. Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt được hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt ngày 3 tháng 3 năm 1951.

Các tổ chức ở hai miền Nam Bắc trong chiến tranh

Sau năm 1954, Việt Nam bị chia thành hai miền Nam Bắc với hai chính thể khác nhau. Mục tiêu của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại miền Bắc là tiến tới hòa hợp thống nhất đất nước. Đảng Lao động Việt Nam quyết định chủ trương thành lập một tổ chức chính trị mới là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (gồm Đảng Lao động, Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội,...) thay thế Mặt trận Liên Việt, tham gia cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Sau đó nhiệm vụ của Mặt trận là huy động lực lượng toàn dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam.

Ngày 10 tháng 9 năm 1955, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời với mục đích "đoàn kết mọi lực lượng dân tộc và dân chủ, đấu tranh đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh".

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã động viên đồng bào và chiến sĩ chống chiến tranh phá hoại Mỹ và ủng hộ cuộc cách mạng tại miền Nam. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng tích cực tham gia cải tạo Xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và giúp đỡ các nhà tư sản dân tộc thông suốt chính sách làm cho cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tiến hành thuận lợi, đạt kết quả. Mặt trận cũng thực hiện việc động viên nhân dân tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, xây dựng chính quyền, phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế, cải tạo văn hóa - tư tưởng tại miền Bắc.

Tại miền Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (phía Mỹ thường gọi là Việt Cộng) được thành lập ngày 20 tháng 12 năm 1960, để chống lại Quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa. Các lãnh đạo chủ chốt là Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Phùng Văn Cung, Võ Chí Công. Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở phía bắc. Chiến tranh Việt Nam kéo dài từ năm 1955 đến năm 1975. Năm 1969, MTDTGPMNVN thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam để đối trọng với chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Ngoài ra ngày 20 tháng 4 năm 1968, một mặt trận mới ra đời là Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam do Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch. Liên minh này được xem là một tổ chức lớn hơn và rộng khắp để đoàn kết nhân dân miền Nam và những người chống đối chế độ Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ, mà không phải là thành viên của MTDTGPMN.

Thống nhất

Sau khi Việt Nam thống nhất, các lãnh đạo của 3 tổ chức chính trị ngoại vi hợp pháp đang tồn tại ở Việt Nam gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Việt Nam đã thành lập Ban trù bị Mặt trận Dân tộc thống nhất từ mùa thu năm 1976, gồm đại biểu của 3 tổ chức: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Việt Nam để bàn việc thống nhất thành một tổ chức chính trị thống nhất. Trong kỳ họp từ 31 tháng 1 đến 4 tháng 2 năm 1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh, thống nhất ba tổ chức này thành một tổ chức chính trị duy nhất lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Lãnh đạo hiện nay

STT Chức vụ Họ và tên Chức danh trong hệ thống chính trị
Ban Thường trực
1 Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài
2 Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hà Thị Nga
  • Ủy viên Trung ương Đảng
  • Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương
  • Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
3 Phó Chủ tịch kiêm Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể Trung ương Nguyễn Phi Long
4 Phó Chủ tịch kiêm Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Nguyễn Anh Tuấn
  • Ủy viên Trung ương Đảng
  • Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể Trung ương
  • Bí thư Đảng ủy Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
5 Phó Chủ tịch kiêm Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam Lương Quốc Đoàn
  • Ủy viên Trung ương Đảng
  • Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể Trung ương
  • Bí thư Đảng ủy Trung ương Hội Nông dân Việt Nam
6 Phó Chủ tịch kiêm Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Lê Thị Thủy
  • Ủy viên Trung ương Đảng
  • Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể Trung ương
  • Bí thư Đảng ủy Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
7 Phó Chủ tịch kiêm Bí thư Thứ nhất Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Bùi Quang Huy
  • Ủy viên Trung ương Đảng
  • Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể Trung ương
  • Bí thư Đảng ủy Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
  • Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam
8 Phó Chủ tịch kiêm Chủ tịch Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam Thượng tướng Bế Xuân Trường
  • Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể Trung ương
  • Bí thư Đảng ủy Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam
9 Phó Chủ tịch chuyên trách Hoàng Công Thủy
  • Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể Trung ương
  • Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
10 Phó Chủ tịch chuyên trách Trần Thắng
  • Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể Trung ương
11 Phó Chủ tịch chuyên trách Nguyễn Đức Phong
  • Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể Trung ương
12 Phó Chủ tịch chuyên trách Cao Xuân Thạo
  • Trưởng Ban Công tác xã hội - Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc việt Nam
Phó Chủ tịch không chuyên trách
13 Phó Chủ tịch không chuyên trách Hà Thị Khiết
14 Phó Chủ tịch không chuyên trách Nguyễn Thị Doan
15 Phó Chủ tịch không chuyên trách Nguyễn Phước Lộc
16 Phó Chủ tịch không chuyên trách Bùi Huyền Mai
  • Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội
  • Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội
17 Phó Chủ tịch không chuyên trách Hòa thượng Thích Thiện Nhơn
18 Phó Chủ tịch không chuyên trách Linh mục Trần Xuân Mạnh
19 Phó Chủ tịch không chuyên trách Đỗ Hồng Quân
20 Phó Chủ tịch không chuyên trách Châu Văn Minh

Biểu trưng

Biểu trưng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Biểu trưng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thống nhất được thông qua tại Kỳ họp thứ nhất Đại hội thứ nhất Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1977.

Biểu trưng hình tròn tượng trưng cho khối thống nhất dân tộc chung mục đích xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Nền biểu trưng là lá cờ tổ quốc với sao vàng trên nền đỏ.

Hoa sen trắng cách điệu tượng trưng cho hình tượng Hồ chủ tịch, vị lãnh tụ vĩ đại, người đã sáng lập ra Mặt trận Dân tộc thống nhất nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Những cánh sen liên kết thành một khối chính là sự đoàn kết thống nhất chính trị của tất cả người Việt Nam yêu nước.

Đường ngoài vòng cung cách điệu hai nhánh lúa nâng dòng chữ Mặt trận Tổ quốc.

Phía dưới là nửa bánh xe cách điệu tượng trưng cho giai cấp công nhân, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp cách mạng với hai chữ Việt Nam.

Các kỳ đại hội của Mặt trận Tổ quốc (mới)

Đại hội lần thứ Thời gian Địa điểm Lãnh đạo được bầu
1 31/1 đến 4/2/1977 Hội trường Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh
2 12 đến 14/5/1983 Hội trường Ba Đình, Hà Nội
  • Chủ tịch danh dự: Hoàng Quốc Việt
  • Chủ tịch: Huỳnh Tấn Phát
  • Tổng Thư ký: Nguyễn Văn Tiến
3 2 đến 4/11/1988 Hội trường Ba Đình, Hà Nội
  • Chủ tịch danh dự: Hoàng Quốc Việt
  • Chủ tịch: Nguyễn Hữu Thọ
  • Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký: Phạm Văn Kiết
4 17 đến 19/8/1994 Hội trường Ba Đình, Hà Nội
5 26 đến 28/8/1999 Hội trường Ba Đình, Hà Nội
6 21 đến 23/9/2004 Hội trường Ba Đình, Hà Nội
  • Chủ tịch: Phạm Thế Duyệt (đến 9/1/2008) (xin nghỉ hưu); Huỳnh Đảm (từ 9/1/2008) (tại Hội nghị lần thứ 5 Ủy ban TW MTTQ Việt Nam (khóa IV)
  • Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký: Huỳnh Đảm (đến 9/1/2008), Vũ Trọng Kim (từ 9/1/2008)
7 28 đến 30/9/2009 Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội
8 25 đến 27/9/2014 Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội
9 18 đến 20/9/2019 Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội
10 16 đến 18/10/2024 Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội
11 11 đến 23/05/2026 Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội

Sơ đồ tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Trước 1/7/2025 khi chưa bỏ cấp huyện)

Tổ chức thành viên

Hiện tại Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có khoảng 70 tổ chức thành viên. Trong đó có gần 50 tổ chức thành viên chính thức.

TT Tên
(in đậm nếu là thành viên chính thức)
Biểu trưng
hoặc hiệu kỳ
Ngày thành lập Lãnh đạo hiện nay Số lượng thành viên
Đảng chính trị
1 Đảng Cộng sản Việt Nam 3/2/1930

Tổng Bí thư Tô Lâm

Khoảng 5,6 triệu
Các tổ chức thanh thiếu nhi
2 Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh 26/3/1931 Bí thư thứ nhất Bùi Quang Huy Khoảng 6,4 triệu
3 Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
(do Đoàn Thanh niên phụ trách)
15/5/1941 Chủ tịch Hồ Hồng Nguyên Khoảng 12 triệu
4 Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam 15/10/1956 Chủ tịch Nguyễn Kim Quy Khoảng 9.2 triệu
5 Hội Sinh viên Việt Nam
(thành viên của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam)
9/1/1950 Chủ tịch Nguyễn Minh Triết Khoảng 2 triệu
Các tổ chức chính trị - xã hội
6 Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 20/10/1930 Chủ tịch Lê Thị Thủy Khoảng 19 triệu
7 Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 28/7/1929 Chủ tịch Nguyễn Anh Tuấn Khoảng 10,3 triệu
8 Hội Nông dân Việt Nam 14/10/1930 Chủ tịch Lương Quốc Đoàn Khoảng 10 triệu
9 Hội Cựu chiến binh Việt Nam 6/12/1989 Chủ tịch Bế Xuân Trường Khoảng 2.6 triệu
Các tổ chức tôn giáo
10 Giáo hội Phật giáo Việt Nam 7/11/1981 Pháp chủ Thích Trí Quảng Khoảng 55 nghìn tăng ni và 26,5 triệu tín đồ
11 Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam 20/1/1955 Chủ tịch Trần Xuân Mạnh 147 Ủy viên
12 Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam 1934 Phó chánh Hội trưởng Nguyễn Ngọc Ánh Khoảng 1,5 triệu tín đồ
13 Hội thánh Cao Đài Ban Chỉnh đạo 1934 Trưởng Hiệp Thiên đài Lữ Văn Châu
14 Hội thánh Cao Đài Bạch Y 1955 Trưởng ban Thường trực Trần Văn Huynh
15 Hội Thánh Cao Đài Chơn lý 1931 Trưởng ban Thường trực Lê Văn Long
16 Hội Thánh Cao Đài Tiên Thiên 1930 Phó Ban Thường trực Thượng Thanh Phong
17 Hội thánh Cao Đài Minh Chơn đạo 1935 Trưởng Ban Thường trực Trần Đức Tăng
18 Hội thánh Cao Đài Tây Ninh 1926 Chưởng quản Thượng Tám Thanh
19 Hội thánh Truyền giáo Cao Đài 1956 Chưởng quản Thượng Thứ Thanh
20 Hội thánh Cao Đài Cầu kho Tam Quan 1930 Phó Chưởng quản Thường trực Ngọc Soi Thanh
21 Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo 1939 Trưởng Ban Trị sự Trung ương Nguyễn Tấn Đạt
22 Giáo hội Phật đường Nam Tông Minh Sư đạo 1920 Trưởng Ban Trị sự Nguyễn Văn Dần Hơn 11 nghìn tín đồ
23 Hội thánh Minh Lý Đạo - Tam Tông Miếu 1924 Trưởng ban Quản trị Phùng Kỳ Hiệp
24 Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương 1849 Trưởng Ban Trị sự Lê Lơn Khoảng 15 nghìn tín đồ
25 Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn 1915 Trưởng Hội đồng Trung ương Nguyễn Hiền Lương
26 Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh
(Hồi giáo Islam)
1992 Quyền Trưởng Ban Thường trực Mach Dares Samael
27 Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo tại Tỉnh An Giang
(Hồi giáo Islam)
2004 Trưởng ban Haji Jacky Hơn 15 nghìn tín đồ
28 Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo tại Tỉnh Tây Ninh
(Hồi giáo Islam)
không rõ Trưởng ban Haji Chàm Sá không rõ
29 Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo tại Tỉnh Ninh Thuận
(Hồi giáo Islam)
không rõ Trưởng ban Thành Thanh Tâm Khoảng 3000 tín đồ
30 Hội đồng Sư cả Hồi giáo Bàni tại Tỉnh Ninh Thuận
(Đạo Bàni)
2007 Chủ tịch Châu Minh Hương không rõ
31 Hội đồng Sư cả Hồi giáo Bàni tại Tỉnh Bình Thuận
(Đạo Bàni)
2012 Chủ tịch Xích Dự không rõ
32 Hội đồng chức sắc Chăm Bàlamôn tại Ninh Thuận
(Ấn Độ giáo)
2011 Chủ tịch Hán Đô Gần 65 nghìn tín đồ
33 Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) 12/4/1955 Hội trưởng Nguyễn Hữu Mạc
34 Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) 13/7/1927 Hội trưởng Thái Phước Trường
35 Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam 1/9/1956 Hội trưởng Nguyễn Quang Đức
36 Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam 1929 Giáo hội Trưởng Trần Thanh Truyện
37 Hội đồng Tinh thần tôn giáo Baha'i Việt Nam 14/7/2008 Tổng Thư ký Nguyễn Đình Thỏa Khoảng 3000 tín đồ
Các tổ chức nghề nghiệp - xã hội
30 Liên minh Hợp tác xã Việt Nam 11/4/1946 Chủ tịch Cao Xuân Thu Vân
31 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam 29/7/1983 Chủ tịch Châu Văn Minh Khoảng 3.7 triệu
32 Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam 25/7/1948 Chủ tịch Đỗ Hồng Quân Khoảng 40.000
33 Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam 17/11/1950 Chủ tịch Phan Anh Sơn
34 Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam 27/4/1963 Chủ tịch Hồ Sỹ Hùng
35 Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 23/11/1946 Chủ tịch Đỗ Thị Thu Thảo
36 Hội Luật gia Việt Nam 4/4/1955 Chủ tịch Nguyễn Khánh Ngọc
37 Hội Nhà báo Việt Nam 21/4/1950 Chủ tịch Lê Quốc Minh
38 Hội Làm vườn Việt Nam 5/4/1986 Chủ tịch Lê Quốc Doanh
39 Hội Người mù Việt Nam 17/4/1969 Chủ tịch Phạm Viết Thu
40 Hội Sinh vật cảnh Việt Nam 13/5/1989 Chủ tịch Nguyễn Hữu Vạn
41 Tổng hội Y học Việt Nam 3/3/1955 Chủ tịch Nguyễn Viết Tiến
42 Hội Người cao tuổi Việt Nam 10/5/1995 Chủ tịch Nguyễn Thanh Bình
43 Hội Kế hoạch hóa Gia đình Việt Nam 11/1/1993 Chủ tịch Đỗ Xuân Tuyên
44 Hội Khuyến học Việt Nam 2/10/1996 Chủ tịch Nguyễn Thị Doan
45 Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài 4/2/2002 Chủ tịch Nguyễn Phú Bình
46 Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam 26/2/1966 Chủ tịch Nguyễn Văn Kim
47 Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam 10/1/2004 Chủ tịch Nguyễn Hữu Chính
48 Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý Việt Nam 20/12/1989 Chủ tịch Lê Ngọc Dũng
49 Hội Cựu Giáo chức Việt Nam 3/7/2007 Chủ tịch Trần Quang Quý
50 Hội Xuất bản Việt Nam 24/8/2001 Chủ tịch Phạm Minh Tuấn
51 Hội Thủy sản Việt Nam 5/5/2000 Chủ tịch Phùng Đức Tiến
52 Hội Bảo trợ Người khuyết tật Việt Nam 5/3/2026 Chủ tịch Ngô Sách Thực
53 Hội Y tế Công cộng Việt Nam 6/6/2002 Chủ tịch Lê Vũ Anh
54 Hiệp hội Bệnh viện tư nhân Việt Nam 11/6/2014 Chủ tịch Nguyễn Văn Đệ
55 Hội Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam 15/7/1950 Chủ tịch Thân Đức Nam Khoảng 500.000
56 Hiệp hội Doanh nghiệp của Thương binh và người khuyết tật Việt Nam 14/4/2003 Chủ tịch Trần Hồng Quảng
57 Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam 6/11/2014 Phó Chủ tịch phụ trách Nguyễn Tiến Bình
58 Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam 19/7/2005 Chủ tịch Nguyễn Văn Thân
59 Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh Việt Nam 5/7/2011 Chủ tịch Võ Sở
60 Hiệp hội Làng nghề Việt Nam 3/2/2005 Chủ tịch Trịnh Quốc Đạt Hơn 13 nghìn hội viên
61 Hội Đông y Việt Nam 22/8/1946 Chủ tịch Đậu Xuân Cảnh
62 Liên đoàn Luật sư Việt Nam 12/5/2009 Chủ tịch Đỗ Ngọc Thịnh
63 Hội Nước và Môi trường Việt Nam 4/10/2002 Chủ tịch Chu Phạm Ngọc Hiển
64 Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam 8/4/2008 Chủ tịch Nguyễn Thị Thanh Hòa Khoảng 110.000
65 Hội Cựu Công an nhân dân Việt Nam 1/8/2023 Chủ tịch Lê Quý Vương
66 Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam 14/01/2019 Chủ tịch Nguyễn Thị Thơ Khoảng 3.500
67 Hội Châm cứu Việt Nam 30/12/1968 Chủ tịch Nguyễn Bá Quang
68 Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam Chủ tịch Dương Đình Giám
69 Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam Chủ tịch Lê Hồng Lý
70 Liên hiệp Hội về Người khuyết tật Việt Nam Chủ tịch Đặng Huỳnh Mai
71 Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam Chủ tịch Trịnh Thúy Mùi
72 Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam Chủ tịch Phạm Anh Phương
73 Hội Kiến trúc sư Việt Nam Chủ tịch Phan Đăng Sơn
74 Hội Nhà văn Việt Nam Phó Chủ tịch phụ trách Nguyễn Bình Phương
75 Hội Nhạc sĩ Việt Nam Chủ tịch Nguyễn Đức Trịnh
76 Hội Điện ảnh Việt Nam Chủ tịch Đỗ Lệnh Hùng Tú
77 Hiệp hội Khoa học hành chính Việt Nam Chủ tịch Trần Anh Tuấn
Lực lượng quân sự
78 Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12/1944 ~5 triệu quân nhân

Hội đồng tư vấn

  • Hội đồng tư vấn về lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
  • Hội đồng tư vấn về Đối ngoại và Kiều bào
  • Hội đồng tư vấn về Kinh tế
  • Hội đồng tư vấn về Dân tộc
  • Hội đồng tư vấn về Khoa học - Giáo dục
  • Hội đồng tư vấn về Tôn giáo
  • Hội đồng tư vấn về Dân chủ Pháp luật

Nguồn: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” — Wikipedia tiếng Việt, theo giấy phép CC BY-SA 4.0. Cập nhật lần cuối: .

Xem bản gốc