Ngô Viết Thụ là một kiến trúc sư và nhà quy hoạch người Việt Nam, đồng thời sáng tác hội họa. Ông học kiến trúc tại Paris, đoạt Grand Prix de Rome về kiến trúc năm 1955 và sau đó lưu trú tại Villa Medici ở Roma để nghiên cứu kiến trúc và quy hoạch. Năm 1962, ông trở thành người châu Á đầu tiên được Viện Kiến trúc Hoa Kỳ trao danh hiệu Honorary Fellow.
Ngô Viết Thụ (17 tháng 9 năm 1926 – 9 tháng 3 năm 2000) là một kiến trúc sư và nhà quy hoạch người Việt Nam, đồng thời sáng tác hội họa. Ông học kiến trúc tại Paris, đoạt Grand Prix de Rome (Giải thưởng La Mã) về kiến trúc năm 1955 và sau đó lưu trú tại Villa Medici ở Roma để nghiên cứu kiến trúc và quy hoạch. Năm 1962, ông trở thành người châu Á đầu tiên được Viện Kiến trúc Hoa Kỳ trao danh hiệu Honorary Fellow (Hội viên danh dự).
Sau thời gian ở châu Âu, Ngô Viết Thụ trở về Việt Nam và phụ trách Văn phòng Tư vấn Kiến trúc và Chỉnh trang lãnh thổ. Hoạt động của ông gồm cả thiết kế công trình và quy hoạch đô thị, với các công trình và đồ án như Dinh Độc Lập, phương án chỉnh trang Sài Gòn–Chợ Lớn, Nhà thờ Phủ Cam, Trường Đại học Sư phạm Huế, Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt và chỉnh trang khu vực Chợ Đà Lạt. Sau năm 1975, ông tiếp tục tham gia thiết kế, quy hoạch và tư vấn kiến trúc; trong thập niên 1990, ông tham gia ban giám khảo quy hoạch khu Nam Sài Gòn, góp ý cho đồ án nâng cấp Chợ Đà Lạt và là thành viên Hội đồng Tư vấn kiến trúc của Thủ tướng Chính phủ.
Bên cạnh kiến trúc, Ngô Viết Thụ còn sáng tác hội họa, trong đó có bức Sơn hà cẩm tú tại Dinh Độc Lập. Một khảo sát về kiến trúc hiện đại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh xếp ông vào nhóm kiến trúc sư Việt Nam điều chỉnh ngôn ngữ hiện đại quốc tế theo điều kiện khí hậu nhiệt đới và cảm quan thẩm mỹ truyền thống.
Tiểu sử
Thân thế
Nguồn hiện nay không hoàn toàn thống nhất về năm sinh của Ngô Viết Thụ. Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh ghi ngày sinh của ông là 17 tháng 9 năm 1926; một bản tin của Le Monde năm 1955 và hồ sơ ULAN của Getty lại ghi năm 1927. Ông sinh tại làng Lang Xá, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Học tập và hoạt động ở châu Âu
Từ năm 1950, Ngô Viết Thụ học kiến trúc tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Quốc gia ở Paris. Tại đây, ông là học trò của Noël Lemaresquier; đề bài kiến trúc của Grand Prix de Rome (Giải thưởng La Mã) năm 1955 là Un sanctuaire votif (Một thánh điện tạ nguyện) và Ngô Viết Thụ giành giải nhất. Ông là kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên giành Prix de Rome (Giải thưởng La Mã). Cùng năm, ông nhận bằng kiến trúc sư D.P.L.G.; sau đó ông lưu trú tại Villa Medici ở Roma để nghiên cứu kiến trúc và quy hoạch. Hồ sơ hiện nay của Villa Medici xếp ông vào danh sách "Fellow" (thành viên lưu trú) ngành kiến trúc trong giai đoạn 1956–1959. Theo bản tóm tắt tham luận năm 2022 của kiến trúc sư Aymeric Zublena tại Académie des sciences d’outre-mer (Viện Hàn lâm Khoa học Hải ngoại), Ngô Viết Thụ và Olivier-Clément Cacoub là hai người duy nhất xuất thân từ cựu đế quốc thuộc địa Pháp từng đoạt Grand Prix de Rome (Giải thưởng La Mã), lần lượt vào các năm 1955 và 1953.
Gia đình và những năm cuối đời
Ông kết hôn với bà Võ Thị Cơ. Hai người có tám người con; một trong số đó là kiến trúc sư, nhà quy hoạch Ngô Viết Nam Sơn. Bà Võ Thị Cơ qua đời năm 1977. Ngô Viết Thụ qua đời ngày 9 tháng 3 năm 2000 tại nhà riêng số 22 Trương Định, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh do tai biến mạch máu não.
Sự nghiệp kiến trúc và quy hoạch
Thời Việt Nam Cộng hòa
Sau thời gian ở châu Âu, Ngô Viết Thụ trở về Việt Nam và phụ trách Văn phòng Tư vấn Kiến trúc và Chỉnh trang lãnh thổ. Ông được đề nghị giữ chức Bộ trưởng Bộ Kiến thiết nhưng từ chối để tiếp tục công việc chuyên môn. Văn phòng này trực thuộc Phủ Tổng thống. Văn phòng của Ngô Viết Thụ đặt tại 104 Nguyễn Du, Sài Gòn. Hoạt động của văn phòng có sự phối hợp với Tổng nha Kiến thiết và Thiết kế đô thị do kiến trúc sư Lê Văn Lắm quản lý. Năm 1962, Ngô Viết Thụ trở thành người châu Á đầu tiên được trao danh hiệu Honorary Fellow (Hội viên danh dự) của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (AIA).
Quy hoạch đô thị và đại học
Một trong các đồ án quy hoạch của ông đầu thập niên 1960 là chỉnh trang khu vực Sài Gòn–Chợ Lớn. Ngô Viết Thụ phát triển phương án La Conurbation de Saigon Cholon (Liên đô thị Sài Gòn–Chợ Lớn) từ năm 1959; phương án được triển lãm tại Paris và Roma trong năm đó, rồi tại Tòa Đô chánh Sài Gòn vào tháng 7 năm 1960. Ý tưởng chính của phương án là hình thành một trung tâm hành chính giữa hai khu đô thị Sài Gòn và Chợ Lớn.
Đồ án không được phê duyệt và triển khai; theo Nguyễn Vĩnh Nguyên, việc đầu cơ đất sau triển lãm, hạn chế ngân sách và bối cảnh bất ổn là những trở lực của dự án. Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái cho biết ý tưởng về khu trung tâm hành chính mới đã được Ngô Viết Thụ đề xuất từ khi còn nghiên cứu tại Roma; phương án công bố năm 1960 bố trí dinh Tổng thống, các bộ sở, thư viện quốc gia và tượng đài anh hùng dân tộc trên vùng cây xanh của vườn cao su Phú Thọ. Trong một tổng thuật về lịch sử quy hoạch thành phố, PGS.TS. Nguyễn Hồng Thục mô tả phương án năm 1960 nhấn mạnh khu vực giữa Sài Gòn và Chợ Lớn bằng các khối nhà ở cao tầng dạng "đường răng" hoặc kéo dài tuyến tính theo phong cách quốc tế; bà cho rằng kế hoạch không được thực hiện vì thiếu vốn cho hạ tầng kỹ thuật trong thời chiến.
Một bản kê công tác đề ngày 16 tháng 11 năm 1963, được Nguyễn Vĩnh Nguyên giới thiệu từ tư liệu lưu trữ, chia hoạt động của văn phòng thành hai nhóm "công tác kiến trúc" và "công tác chỉnh trang lãnh thổ", đồng thời phân loại các hạng mục theo trạng thái đã hoàn thành, đang thực hiện hoặc chưa thực hiện. Trong bản kê, nhiều công trình kiến trúc còn tiếp tục sau năm 1963; ở nhóm chỉnh trang lãnh thổ, chỉ một số ít đồ án đã hoàn tất, còn phần lớn dự án vẫn đang triển khai hoặc chưa thực hiện trong bối cảnh chiến tranh. Trong nhóm quy hoạch đại học, Làng Đại học Thủ Đức là hạt nhân của dự án Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức do Ngô Viết Thụ và Lê Văn Lắm thiết kế trên khu đất rộng khoảng 3 km², gồm các công trình hành chính, thư viện, sân vận động, cư xá sinh viên và khoảng 300 nhà ở cho giáo sư, nhân viên. Dự án chỉ được thực hiện một phần trong thời chiến. Các công việc quy hoạch khác của ông trong giai đoạn này gồm Công trường Mê Linh và nhiều đồ án chỉnh trang tại các tỉnh, thị xã ở miền Nam. Trong một phúc trình sau chuyến đi Hàn Quốc, Ngô Viết Thụ mô tả việc tái thiết đồng thời hệ thống giao thông, điện nước, sân bay và hải cảng với việc phục hồi chùa chiền, cung điện cổ của nước này. Với Chợ Đà Lạt, ngôi chợ mới do kiến trúc sư Nguyễn Duy Đức thiết kế; sau khi về nước, Ngô Viết Thụ tham gia chỉnh trang tổng thể khu vực thung lũng từ cầu Ông Đạo, bổ sung cầu thang lớn nối khu Hòa Bình với tầng lầu chợ, các dãy phố buôn bán và hệ thống đường giao thông bao quanh. Ông còn chỉnh mặt đứng Chợ Đà Lạt và xây một cầu bê tông nối phần chợ mới với phần chợ cũ.
Dinh Độc Lập

Sau vụ ném bom năm 1962, Ngô Đình Diệm quyết định phá bỏ Dinh Norodom cũ để xây dinh mới trên nền cũ. Dinh Độc Lập do Ngô Viết Thụ thiết kế được khởi công ngày 1 tháng 7 năm 1962 và khánh thành ngày 31 tháng 10 năm 1966. Tư liệu trưng bày được Thanh Niên thuật lại còn ghi quá trình xây dựng từng bị gián đoạn khoảng sáu tháng trước khi khánh thành. Khu nhà chính hình chữ T có diện tích mặt bằng 4.500 m², cao 26 m, tổng diện tích sử dụng khoảng 20.000 m² và gần 100 phòng; lớp rèm hoa đá bao quanh tầng hai đồng thời có chức năng điều hòa ánh sáng tự nhiên. Toàn khuôn viên rộng 120.000 m².
Phạm Thúy Loan và Trương Ngọc Lan cho biết Dinh mới là kết quả của một cuộc thi thiết kế nhằm thay thế Dinh Norodom đã bị hư hại do đánh bom. Theo hai tác giả, một số phương án tân cổ điển đã được nộp, còn phương án hiện đại của Ngô Viết Thụ được giao thực hiện. Ngô Viết Nam Sơn kể rằng cha ông ban đầu được giao sửa phần hư hỏng của dinh Norodom, nhưng kết cấu cũ không thể nối an toàn với phần sửa chữa nên Ngô Viết Thụ đề xuất xây một công trình mới theo ngôn ngữ kiến trúc của thế kỷ 20, đồng thời tiếp thu ý nghĩa truyền thống thay vì mô phỏng nguyên dạng kiến trúc cũ.
Trần Thị Thu Hằng phân tích mặt bằng Dinh Độc Lập như một chuyển thể của bố cục nhà cổ truyền "ba gian hai chái": ba gian giữa chủ yếu dành cho nghi lễ, hoạt động nội các và gia đình tổng thống, còn hai chái bên được chia thành nhiều tầng cho nhân viên. Trong cách đọc của bà, hồ sen phía trước và việc đưa ánh sáng cùng cảnh quan vào đại sảnh tạo thành các lớp chuyển tiếp giữa bên ngoài và nội thất.
Ở mặt đứng, Vũ Trung Hiếu phân tích lớp "rèm hoa đá" như một cấu trúc vừa giảm bức xạ và ánh sáng trực tiếp, hỗ trợ thông gió, vừa tạo sự bất đối xứng về tầm nhìn giữa trong và ngoài. Từ góc độ thị giác, Trần Thị Tuyết Nhung xem các đốt trúc cách điệu, khoảng rỗng, tương phản rỗng–đặc và nhịp lặp của chấn song là những yếu tố tạo cảm giác thoáng và nhẹ cho bề mặt công trình. Tư liệu trưng bày được Thanh Niên thuật lại còn có thư tay của điêu khắc gia Nguyễn Văn Thế, người phụ trách ban kiến trúc, nói về bức rèm hoa đá bao quanh tầng hai. Một nghiên cứu năm 2025 của Nguyen Ngoc Van Chau, Nguyen Dinh Viet Anh và Nguyen Van Hoan phân tích lớp vỏ này như một hệ che nắng gồm cửa kính rộng bên trong và màn bê tông cốt thép bên ngoài; các tác giả liên hệ họa tiết với cửa bức bàn trong kiến trúc cung đình Huế.
Các nguồn có cách giải thích khác nhau về vai trò của những hình chữ Hán thường được nhận ra trên mặt đứng và hình khối của Dinh. Vũ Trung Hiếu cho rằng các hình chữ là kết quả của chính tổ chức không gian và ý nghĩa hình thành đồng thời với quá trình thiết kế, chứ không phải lớp biểu tượng được gắn thêm về sau. Ngược lại, Ngô Viết Nam Sơn kể rằng gần ngày khánh thành, cha ông mới điều chỉnh một phần mặt tiền để khớp với các chữ; theo ông, việc chiết tự này không phải nguyên tắc phát sinh thiết kế ban đầu.
Cơ sở giáo dục, nghiên cứu và văn hóa

Trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu, Ngô Viết Thụ tham gia quy hoạch Viện Đại học Huế, thiết kế khu giảng đường Trường Đại học Sư phạm Huế (1961–1963) và Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt. Đồ án Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt do Ngô Viết Thụ đảm nhận cùng các kiến trúc sư Nguyễn Mỹ Lộc, Phạm Quỳnh Lân và Vũ Tòng; hình thức công trình được điều chỉnh từ phương án mẫu do phía Mỹ cung cấp để thích ứng với địa hình đồi núi và liên hệ với kiến trúc truyền thống. Trong cùng ấn phẩm địa phương năm 1993, Phó viện trưởng Nguyễn Mộng Sinh mô tả kiến trúc của trung tâm được phỏng theo mô hình nguyên tử hydro. Lò TRIGA Mark II được xây dựng trong giai đoạn 1961–1962, đạt trạng thái tới hạn đầu tiên vào tháng 2 năm 1963 và được khánh thành vào tháng 10 cùng năm. Theo nhà vật lý Phạm Duy Hiển, nhà chứa lò của trung tâm là một khối hình trụ do Ngô Viết Thụ thiết kế, đặt ở tâm một bố cục đồng tâm.
Ngô Viết Thụ cũng tham gia điều chỉnh hoặc cộng tác ở một số công trình do kiến trúc sư khác khởi thảo. Tại Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, ông tham gia chỉnh sửa một thiết kế ban đầu của kiến trúc sư Mỹ. Trong dự án này, ông giữ vai trò Trưởng ban Kiến trúc phía Việt Nam Cộng hòa, hợp tác với một nhóm kiến trúc sư Mỹ từ Texas. Mặt đứng của trường có các mảng bê tông đục lỗ chạy qua nhiều tầng; Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ cũng nằm trong số các công trình hiện đại của Ngô Viết Thụ, với hệ lưới hình học tạo bóng lên bề mặt phía sau.
Công trình tôn giáo

Trong nhóm công trình tôn giáo, Nhà thờ chính tòa Phủ Cam được khởi công theo thiết kế của Ngô Viết Thụ năm 1963. Quá trình xây dựng tiếp tục qua nhiều giai đoạn đến năm 1995. Công trình có mặt bằng chữ thập Latin; các khung vòm bán nguyệt cao, chân choãi làm rõ ba gian dọc của không gian thánh đường. Công trình chỉ thực sự hoàn thành vào tháng 5 năm 2000; các vòm cửa và hiên sâu được xử lý để tránh nắng mưa, còn lòng nhà thờ có thể chứa khoảng 2.500 người dự lễ. Ngô Viết Thụ còn thiết kế Nhà thờ chính tòa Vĩnh Long và Nhà thờ Bảo Lộc; Thanh Tuyết trên VnExpress mô tả Nhà thờ Bảo Lộc là công trình cuối cùng của ông. Theo Ngô Viết Nam Sơn, Nhà thờ chính tòa Vĩnh Long hiện nay là phiên bản giản lược so với thiết kế ban đầu của cha ông. Thiết kế Nhà thờ Bảo Lộc năm 1993 của Ngô Viết Thụ phải tạm dừng vì khó khăn tài chính; khi công trình được tiếp tục năm 1997, phương án được Nguyễn Viết Tống và Nguyễn Hoàng Sơn chỉnh sửa theo quy mô nhỏ hơn. Ông còn phác thảo Việt Nam Quốc Tự tại Sài Gòn và tham gia quy hoạch kiến trúc tại khu Thánh địa La Vang.
Công trình dân dụng, công nghiệp và hợp tác quốc tế
Ở nhóm công trình dân dụng và công nghiệp, các tác phẩm được ghi nhận gồm Khu công nghiệp An Hòa, Nhà máy dệt Phong Phú, Khách sạn Hương Giang I (1962), phần mở rộng khu hội nghị tại Khách sạn Majestic, Thương xá Tam Đa, Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại London (1961), biệt thự Ưng Thi, một chung cư Pháp tại Sài Gòn, Tháp Tiêu Năng (1974) và Trung tâm Innotech Sài Gòn (1974–1975). Tại số 27 Nguyễn Đình Chiểu từng có một dinh thự lớn do Ngô Viết Thụ thiết kế làm tổng hành dinh của Air Vietnam; công trình về sau đã bị phá bỏ. Ở Paris, tòa nhà lịch sử tại khu Le Marais của Cité internationale des arts (Thành phố Nghệ thuật Quốc tế) được Paul Tournon, Olivier-Clément Cacoub và Ngô Viết Thụ thiết kế cho dự án và khánh thành năm 1965; cả ba kiến trúc sư đều từng nhận Prix de Rome (Giải thưởng La Mã). Khu Le Marais tập hợp 280 xưởng-lưu trú cho nghệ sĩ.
Sau năm 1975
Sau năm 1975, Ngô Viết Thụ trải qua khoảng một năm học tập cải tạo trước khi trở lại công việc chuyên môn. Trong giai đoạn sau đó, ông thiết kế trụ sở Ty Thủy lợi Đắk Lắk, Bệnh viện tỉnh Sông Bé (1985) và khách sạn Century Huế (1990), đồng thời cộng tác trong quy hoạch tổng mặt bằng Hà Nội đến năm 2000 và quy hoạch Hải Phòng. Ông còn phác thảo Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt.
Năm 1993, ông là thành viên ban giám khảo cuộc thi quốc tế chọn phương án quy hoạch khu Nam Sài Gòn. Cùng năm, chính quyền Đà Lạt mời ông góp ý cho đồ án nâng cấp Chợ Đà Lạt thành Trung tâm thương mại và dịch vụ. Năm 1995, ông là một trong 23 thành viên Hội đồng Tư vấn kiến trúc của Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ I (1995–1999).
Quan niệm và cách tiếp cận thiết kế
Trong khảo sát năm 2018 về kiến trúc hiện đại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, Hai Thanh Truong và Thi Hong Hanh Vu xếp Ngô Viết Thụ vào nhóm kiến trúc sư Việt Nam có vai trò đặt chủ nghĩa hiện đại quốc tế vào bối cảnh địa phương. Hai tác giả nhận xét các công trình của nhóm này thích ứng kiến trúc hiện đại phương Tây với khí hậu nhiệt đới và cảm quan thẩm mỹ truyền thống; họ gọi xu hướng đó là "Modern Tropicalization Architecture" ("kiến trúc hiện đại nhiệt đới hóa"). Trong bảng tổng hợp các kiến trúc sư tiên phong, hai tác giả mô tả riêng Ngô Viết Thụ qua sự kết hợp triết lý và truyền thống văn hóa phương Đông với kiến trúc hiện đại phương Tây.
Ngô Viết Thụ cũng trực tiếp diễn giải cách tiếp cận của mình tại lễ khánh thành Dinh Độc Lập năm 1966. Khi giới thiệu bức Sơn hà cẩm tú, ông nói về việc sử dụng vật liệu và kỹ thuật đương thời, kể cả những phương thức có nguồn gốc Âu–Mỹ, để biểu đạt một "tâm hồn Việt Nam", đồng thời xem bức tranh là sự tóm lược những nguyên tắc đã vận dụng khi nghiên cứu và phối hợp thiết kế Dinh.
Ở Dinh Độc Lập, Vũ Trung Hiếu phân tích phương án của Ngô Viết Thụ như một nỗ lực kết hợp chủ nghĩa hiện đại phương Tây với triết lý phương Đông: hình khối đơn giản, kết cấu rõ và tổ chức không gian hợp lý được đặt cùng vật liệu, chi tiết kiến trúc và hệ biểu tượng bản địa. Theo cách đọc của tác giả này, lớp "rèm hoa đá" vừa điều tiết vi khí hậu và ánh sáng, vừa tổ chức tầm nhìn giữa bên trong và bên ngoài; vì vậy công trình được ông xem như một dạng hiện đại đã được nội địa hóa.
Theo Ngô Viết Nam Sơn, cha ông ủng hộ việc mở rộng Thành phố Hồ Chí Minh theo nhiều hướng nhưng đặc biệt lưu ý phải tăng hạ tầng không gian xanh và kênh rạch khi phát triển về các vùng đất thấp phía nam.
Đóng góp nghệ thuật
Trong hội họa, Ngô Viết Thụ có bức Sơn hà cẩm tú tại Dinh Độc Lập, hoàn thành năm 1966. Bức tranh sơn dầu có kích thước toàn bộ 7 m × 2 m, ghép từ bảy tấm, mỗi tấm 2 m × 1 m, thể hiện phong cảnh ba miền Bắc, Trung và Nam của Việt Nam. Các tác phẩm khác của Ngô Viết Thụ gồm Thần tốc, Hội chợ và Bến Thuyền; ông cũng có các triển lãm kiến trúc, quy hoạch, điêu khắc và hội họa tại Rome và Paris trong các năm 1956–1958, tại Sài Gòn năm 1960 và 1963, Manila năm 1963, cùng một triển lãm lưu động tại các cơ sở của Smithsonian ở Hoa Kỳ năm 1963.
Ngoài kiến trúc và hội họa, Ngô Viết Thụ còn chơi nhạc cụ truyền thống. Theo Ngô Viết Nam Sơn, cha ông chơi nhiều nhạc cụ cổ truyền Việt Nam, trong đó có đàn nguyệt và đàn tranh, đồng thời sáng tác hàng trăm bài thơ. Ông còn chơi đàn kìm và sáo, và có một tác phẩm điêu khắc hợp kim từng đặt trước Tòa Đô chánh Sài Gòn.
Tiếp nhận và bảo tồn di sản
Trong chuyên khảo Paths of Modern Movement Vietnam Cambodia (Những con đường của Phong trào Hiện đại ở Việt Nam và Campuchia), Agata Bonenberg xếp các công trình của Ngô Viết Thụ và Vann Molyvann vào một biến thể của phong cách quốc tế có tính thích ứng với bối cảnh. Năm 2024, tờ Wallpaper* mô tả Dinh Độc Lập như một ví dụ tiêu biểu của chủ nghĩa hiện đại hậu thuộc địa ở Việt Nam và đặt công trình trong nhánh hiện đại nhiệt đới thích ứng với khí hậu nóng ẩm.
Năm 2019, một biệt thự do Ngô Viết Thụ thiết kế tại Quận 3 đang bỏ trống, chỉ có một người trông nom sống tại đó; nhà sử học kiến trúc Mel Schenck nêu công trình này như một trường hợp có nguy cơ bị phá dỡ trong quá trình tái phát triển đô thị. Cùng năm, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội đặt tên phố Ngô Viết Thụ tại quận Long Biên; tuyến phố dài 1.200 m.
Một số công trình và đồ án
- La Conurbation de Saigon Cholon (Liên đô thị Sài Gòn–Chợ Lớn) — đồ án chỉnh trang đô thị được Ngô Viết Thụ phát triển từ năm 1959.
- Dinh Độc Lập — công trình do Ngô Viết Thụ thiết kế, xây dựng trong giai đoạn 1962–1966.
- Trường Đại học Sư phạm Huế — khu giảng đường được thiết kế trong giai đoạn 1961–1963.
- Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt — đồ án Ngô Viết Thụ thực hiện cùng Nguyễn Mỹ Lộc, Phạm Quỳnh Lân và Vũ Tòng.
- Nhà thờ chính tòa Phủ Cam — công trình được khởi công theo thiết kế của Ngô Viết Thụ năm 1963.
- Trường Đại học Y khoa Sài Gòn — Ngô Viết Thụ tham gia chỉnh sửa thiết kế và giữ vai trò Trưởng ban Kiến trúc phía Việt Nam Cộng hòa.
- Chợ Đà Lạt — Ngô Viết Thụ tham gia chỉnh trang tổng thể khu vực thung lũng và các hạng mục kết nối quanh chợ.
Ghi chú
- Một số nguồn ghi năm sinh của ông là 1927. Xem phần § Tiểu sử
Nguồn: “Ngô Viết Thụ” — Wikipedia tiếng Việt, theo giấy phép CC BY-SA 4.0. Cập nhật lần cuối: .
Xem bản gốc