Lê Văn Viễn tức Bảy Viễn, nguyên là tướng cướp lừng danh trước năm 1945, về sau tham gia tổ chức lực lượng vũ trang kháng chiến chống Pháp và hợp tác với Việt Minh, rồi ly khai trở về hợp tác với chính phủ Quốc gia Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại làm Quốc trưởng và được phong Thiếu tướng Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ông cũng là thủ lĩnh của Lực lượng Bình Xuyên kiêm Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn. Năm 1955, Bảy Viễn chỉ huy lực lượng này chống chính phủ và bị Thủ tướng Ngô Đình Diệm tiêu diệt, nên phải đào thoát và lưu vong sang Pháp.
Lê Văn Viễn (1904 - 1972) tức Bảy Viễn, nguyên là tướng cướp lừng danh trước năm 1945, về sau tham gia tổ chức lực lượng vũ trang kháng chiến chống Pháp và hợp tác với Việt Minh, rồi ly khai trở về hợp tác với chính phủ Quốc gia Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại làm Quốc trưởng và được phong Thiếu tướng Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ông cũng là thủ lĩnh của Lực lượng Bình Xuyên kiêm Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn. Năm 1955, Bảy Viễn chỉ huy lực lượng này chống chính phủ và bị Thủ tướng Ngô Đình Diệm tiêu diệt, nên phải đào thoát và lưu vong sang Pháp.
Thân thế
Xuất thân
Bảy Viễn sinh năm Giáp Thìn 1904 tại làng Phong Đước, tổng Tân Phong Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn, Nam Kỳ, Liên bang Đông Dương (Nay là xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam) trong một gia đình điền chủ trung lưu gốc Hoa (Cha người Trung Quốc, mẹ người Việt). Thân phụ là Lê Văn Dậu, người Triều Châu (Quảng Đông, Trung Quốc), một điền chủ Hoa kiều bản tánh cương trực, trung thực, lương thiện và công bằng và cũng là một đàn anh giang hồ nhóm Nghĩa Hòa (Triều Châu) thuộc Thiên Địa hội, mang tinh thần Phản Thanh phục Minh, nên Bảy Viễn có máu giang hồ từ nhỏ.
Tuy sinh ra trong gia đình điền chủ khá giả, lúc nhỏ sống đầm ấm sung túc và được học hành đàng hoàng, nhưng Viễn ham chơi nên chỉ học hết Tiểu học trường làng, và sau vì cảm thấy thiệt thòi một cách bất công trong việc chia gia tài nên Viễn bỏ nhà đi bụi, tự lực cánh sinh rồi học võ ở nhiều nơi nên ông rất giỏi võ và rất có máu mặt trong việc đánh đấm giành địa bàn. Tánh giang hồ hảo hán của ông Dậu có ảnh hưởng rất lớn đến Viễn, nhờ vậy mà sau này, tay giang hồ nghĩa hiệp trọng tình bạn và tình anh em như Bảy Viễn luôn được đàn em và bạn bè - kể cả các thương gia người Tàu ở Chợ Lớn - kính nể.
Về diện mạo, Bảy Viễn khuôn mặt chữ điền, lông mày rậm, tóc cứng và dày, đen nhánh, được húi cua kiểu nhà binh, môi dày, mũi cao và thẳng, mắt sáng, mang phong thái của một vị tướng thực thụ. Về hình thể, Bảy Viễn cao 1m70, dáng to vạm vỡ, trên khắp cơ thể đều có hình xăm, cả một con rồng lớn chiếm trọn tấm lưng, đầu rồng trên cổ, đuôi rồng tận hậu môn, hai vai xăm hình đàn bà trần truồng, trên dương vật xăm chữ Tàu và ngay trên quy đầu xăm hình đầu rắn, ngoài ra còn có vết sẹo dài 6 cm trên cánh tay trái là hình xăm đã bị Viễn lấy dao tự rạch lên để xóa bỏ vết xăm. Tuy xăm đầy mình và là dân anh chị nhưng Bảy Viễn rất chú trọng cách ăn mặc, luôn ăn vận chỉnh tề, từ quân phục đến thường phục đều vừa vặn với thân hình lực lưỡng, cao và cân đối nên ông trông lúc nào cũng lịch lãm và uy nghiêm.
Tuổi trẻ
Ngày 14 tháng 2 năm 1921, Bảy Viễn vào tù lần đầu với bản án 20 ngày tù giam khi mới 17 tuổi do phạm tội trộm xe đạp. Thời bấy giờ, xe đạp là tài sản có giá trị rất lớn, và thật ra chiếc xe đạp ấy vốn của gia đình Viễn, nhưng vì bà mẹ đem cho một người bà con mà ông không biết, khi phát hiện chiếc xe đang nằm ở nhà người ta thì ông mang về, nên bị hàm oan.
Trước năm 1945, Bảy Viễn là tướng cướp nổi tiếng làm điên đảo giới nhà giàu và các chủ tiệm vàng cũng như ngành an ninh của chính quyền Thuộc địa khắp Sài Gòn-Chợ Lớn, khiến người Pháp phải ráo riết truy bắt. Ban đầu Bảy Viễn nổi danh là tay anh chị chợ Bình Đông, chuyên bảo kê các trường đá gà và thu tiền xâu từ các sòng bạc, Viễn còn có cả một băng đảng do mình cầm đầu chuyên "bảo kê" cho các hãng xe đò chạy tuyến Sài Gòn-Biên Hòa và Vũng Tàu. Sau đó Bảy Viễn mở rộng địa bàn hoạt động, vào trung tâm thành phố Chợ Lớn làm bảo kê cho các thương gia người Tàu.
Ngày 31 tháng 5 năm 1927, Bảy Viễn bị phạt giam 2 tháng tù về tội hành hung gây thương tích một ông chủ sòng bạc người Tàu do mâu thuẫn. Bảy Viễn tiếp tục các hoạt động của mình ngay khi được trả tự do, và nhờ công việc làm ăn phát đạt, Viễn dần mua cổ phần trong hai nhà hàng, một công ty taxi, một quán rượu đêm và tài trợ cho một mạng lưới các nhà máy chưng cất rượu bí mật.
Ngày 12 tháng 9 năm 1935, một chiếc xe đò chở khách đi Phan Thiết bị năm người mang súng ngắn chặn lại khi băng ngang Rừng Lá, hai thương gia giàu có người Tàu bị cướp số tiền 6.000 đồng, một trong số họ, Lin Fung Ha, nhận diện ra đuợc Bảy Viễn qua ảnh chụp. Ngày 20 tháng 6 năm 1936, Bảy Viễn bị bắt tại nhà của một ả tình nhân trên đường "Rue de Louvain" ở Sài Gòn, nay là đường Đề Thám, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi bị bắt, Viễn không có vũ khí trong người, nhưng lục soát trong nhà thì cảnh sát tịch thu được một khẩu súng Sauer của Đức kiểu năm 1930, cỡ nòng 7.65 mm với 32 viên đạn. Có thuyết khác thì cho rằng trong một vụ cướp tiệm vàng ở Giồng Ông Tố, Viễn lấy được 6.000 đồng tương đương với 600 tấn gạo, nhưng sau đó không lâu thì bị bắt.

Ngày 28 tháng 8 năm 1936, Bảy Viễn bị kêu án 12 năm tù và đày đi Côn Đảo về tội tổ chức băng đảng và tàng trữ vũ khí bất hợp pháp. Tuy nhiên, đến năm 1940, Viễn vượt ngục thành công về đất liền. Trong khoảng thời gian ngồi khám lần đầu này, Bảy Viễn đã hạ được một tay trùm du đãng gốc Khmer để trở thành ông vua du đãng mới, rồi còn quyến rũ và dan díu với cô vợ của một tên Thầy chú (Cai ngục), cô này rất mê Viễn nên sẵn sàng giúp đỡ và hỗ trợ ông.
Năm 1941, Bảy Viễn bị bắt cùng Mười Trí tên thật là Huỳnh Văn Trí, một người bạn mới quen trong vụ tổ chức cướp xưởng mộc Bình Triệu. Tòa án tuyên phạt Bảy Viễn 12 năm khổ sai cộng thêm 8 năm còn thiếu trước đây thành 20 năm. Sau đó Bảy Viễn lại vượt ngục thành công nhưng máu "phiêu lưu" vẫn âm ỉ nên Viễn và Mười Trí lại tổ chức đi cướp lần nữa, rồi lại bị bắt đày ra Côn Đảo lần thứ 3. Đến năm 1945, sau khoảng thời gian chuẩn bị chu đáo nhưng dài hơi vì vợ chồng Thầy chú đã được triệu hồi về đất liền, Bảy Viễn và Mười Trí cùng vài người bạn thân lại tổ chức vượt ngục thành công lần cuối cùng. Lịch sử nhà tù Côn Đảo chỉ khoảng 10 cuộc vượt ngục thành công mà Bảy Viễn đã chiếm đến 3.
Binh nghiệp
Tham gia kháng chiến
Tháng 8 năm 1945, vừa vượt ngục trở về cũng là lúc quân đội Nhật đầu hàng Đồng Minh, Việt Minh thành lập chính quyền tại Nam Bộ. Bảy Viễn cùng Mười Trí và những người khác ở làng Bình Xuyên tập hợp lực lượng du đãng Sài Gòn hợp tác với Trần Văn Giàu tham gia Kháng chiến chống Pháp. Bộ đội Lê Văn Viễn xây dựng thành Chi đội 9 do Lê Văn Viễn làm Chi đội trưởng và thuộc Liên khu Bình Xuyên, sở chỉ huy đặt tại Vườn Thơm (Bình Chánh) và do Ba Dương tên thật là Dương Văn Dương làm Tổng chỉ huy. Chi đội 9 của Bảy Viễn còn được gọi là "Bộ đội Phú Thọ" hoặc "Bộ đội Bảy Viễn", dù vậy, đơn vị của Bảy Viễn tuy tuân thủ chỉ thị quân sự của cấp trên nhưng lại từ chối tiếp nhận những chính trị viên do cấp trên cử xuống. Ông từng từ chối giết mấy trăm trí thức ở Sài Gòn theo lệnh Trần Văn Giàu. Tháng 10 năm 1946, Bảy Viễn đưa đơn vị rời Vườn Thơm rút về mật khu Rừng Sác. Trong khoảng thời gian gần 3 năm trước khi về thành, Bảy Viễn đã chỉ huy Chi đội 9 Bộ đội Bình Xuyên đánh nhiều trận quyết liệt, gây không ít thiệt hại cho Quân đội Pháp.

Ngày 20 tháng 2 năm 1946, Tổng chỉ huy Ba Dương hy sinh trong một trận chống càn của Pháp ở Bến Tre, khi chỉ huy một bộ phận quân Bình Xuyên vượt sông Soài Rạp từ Rừng Sác về cứu nguy cho mặt trận An Hóa-Giao Hòa. Sau khi Ba Dương hy sinh, Bảy Viễn vận động để nắm chức Tư lệnh Bình Xuyên nhưng một số cán bộ Chỉ huy trưởng các Chi đội Bình Xuyên không tán thành. Ngày 12 tháng 4 năm 1946, tướng Nguyễn Bình, Tư lệnh các Lực lượng vũ trang Nam Bộ ký quyết định phong Năm Hà tức Dương Văn Hà, em cùng cha khác mẹ của Dương Văn Dương làm Tư lệnh Lực lượng Bình Xuyên thay cho Ba Dương. Vì vậy, tháng 7 cùng năm, Nguyễn Bình ký quyết định phong Bảy Viễn làm Đệ nhất Khu bộ phó Chiến khu 7, Đệ nhị Khu bộ phó là Huỳnh Văn Nghệ tức Tám Nghệ, với ý định tách Viễn ra khỏi vị trí trực tiếp chỉ huy Lực lượng Bình Xuyên và để ông không từ bỏ kháng chiến về hợp tác với Pháp và Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Tháng 12 năm 1946, Bảy Viễn chính thức giữ chức Khu bộ phó Chiến khu 7. Cuối năm 1946, Nguyễn Bình bị Vũ Tam Anh, người từng bị Trần Văn Giàu ám sát hụt, là chỉ huy trưởng Đệ nhị Sư đoàn Dân quân Cách mạng và Bùi Hữu Phiệt là chỉ huy trưởng Trung đoàn 25 của Bình Xuyên ám sát tại Trung đoàn 4 của Huỳnh Văn Trí nhưng may mắn thoát chết.
Đồng thời cũng trong thời điểm này Đại úy Savani - Trưởng Phòng nhì Pháp (Cơ quan tình báo Quốc phòng Hải ngoại của Pháp) cho cài người vào Chi đội 9 bí mật tiếp xúc với Bảy Viễn nhằm mục đích lập Chiến khu Quốc gia Rừng Sác. Các nội gián mà Phòng Nhì cài vào gồm anh em Lại Văn Sang (Tư Sang) và Lại Hữu Tài (Năm Tài) do Maurice Thiên giới thiệu, với vai trò các cố vấn thân cận, luôn theo sát Bảy Viễn. Hai anh em Tài - Sang cho Bảy Viễn biết Nguyễn Bình, Huỳnh Văn Nghệ cùng Bộ Tư lệnh Việt Minh là đảng viên cộng sản, khi quyết định việc gì cũng có tính toán riêng và cho rằng Bảy Viễn đang sống trong sự kìm kẹp của cả cộng sản Việt Minh lẫn thực dân Pháp nên Bảy Viễn quyết định nghe theo lời khuyên của Năm Tài và Maurice Thiên là tạm thời không xung đột với Việt Minh mà cũng không giao tranh với Pháp. Bảy Viễn không biết ông đã có quan hệ với các nhân viên Phòng Nhì trong khi Nguyễn Bình cùng Bộ Tư lệnh Khu 7 đang nghi ngờ ông phản bội kháng chiến. Bảy Viễn cũng không thích cộng sản. Ông thủ tiêu các cán bộ quân sự do miền Bắc cử vào Nam công tác tại đơn vị ông, công khai thanh trừng các chính trị viên tại các đơn vị Bình Xuyên do ông chỉ huy. Khi cựu hoàng Bảo Đại đàm phán với chính phủ Pháp nhằm thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam độc lập được Pháp công nhận và bảo trợ khi gia nhập khối Liên hiệp Pháp. Phòng nhì Pháp muốn thông qua những nhân viên nội gián của mình đang nằm vùng trong Chi đội 9 thuyết phục Bảy Viễn phục vụ cho chính phủ của một nước Việt Nam độc lập phi cộng sản bằng cách lập Chiến khu Quốc gia Rừng Sác, lôi kéo các Chi đội Liên khu Bình Xuyên cùng về thành nhằm làm suy yếu lực lượng kháng chiến Việt Minh.
Cuối tháng 1 năm 1948, sau khi Khu trưởng Khu 7 Nguyễn Bình được phong quân hàm Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam và được đề bạt làm Uỷ viên Quân sự Nam Bộ kiêm Tổng chỉ huy chiến trường Nam Bộ, thì cả Nguyễn Bình và Ủy ban Hành chính-Kháng chiến Nam Bộ quyết định phong Bảy Viễn làm Khu bộ trưởng Chiến khu 7 để đưa Viễn về chỉ huy Tổng hành dinh Bộ Tư lệnh Khu 7, để ông không thể rời bỏ kháng chiến. Nguyễn Bình nhờ Mười Trí và Tám Nghệ vào Rừng Sác thuyết phục Bảy Viễn về Khu nhận chức Khu trưởng Khu 7. Được hai vị chỉ huy quân sự nổi danh khích lệ nên Bảy Viễn đồng ý về họp tại Bộ Tư lệnh Khu, nhưng việc nhận chức Khu trưởng hay không còn tùy vào tình hình. Vài tháng sau, ngày 20 tháng 5 năm 1948, Bảy Viễn cùng hai Đại đội võ trang khoảng 200 lính thiện chiến và trung thành của mình đi Đồng Tháp Mười theo lời mời của Nguyễn Bình, đến dự cuộc họp quan trọng do Nguyễn Bình chủ trì với mục đích phong Viễn chức Khu bộ trưởng Chiến khu 7, đồng thời giải quyết những mâu thuẫn đang tồn tại giữa Bộ đội Bình Xuyên và Bộ đội Nguyễn Bình.

Tại cuộc họp, Bảy Viễn đã trả lời các chất vấn của Nguyễn Bình về những mâu thuẫn nội bộ và tỏ ý nghi ngờ việc phong chức Khu trưởng Khu 7 mà trước đó Viễn cho rằng người xứng đáng nhận chức này hơn phải là Huỳnh Văn Nghệ vì theo Viễn những chiến công của Bộ đội Tám Nghệ vượt xa Bộ đội Bảy Viễn. Được Nguyễn Bình tiết lộ tin tình báo rằng hai anh em cố vấn Tài-Sang là người của Phòng Nhì và cáo buộc Bảy Viễn bao che tay sai mật thám, nên trong lúc hội nghị tạm ngưng, chính Bảy Viễn đã tra hỏi cả hai người và được Năm Tài thừa nhận thì Viễn mới biết sự thật. Nguyễn Bình cũng thông báo quyết định giải tán các đơn vị Bình Xuyên, phiên chế thành các đơn vị Vệ quốc Đoàn để ngăn chặn việc Bình Xuyên rời bỏ kháng chiến hợp tác với chính phủ Bảo Đại, mặc cho nhiều lãnh đạo chủ chốt bên phía Bình Xuyên phản đối quyết định này bao gồm cả Mười Trí, Chi đội trưởng Chi đội 4. Bảy Viễn phản đối quyết liệt quyết định này đồng thời tố cáo Nguyễn Bình muốn thiết lập chế độ Đảng trị và củng cố uy quyền cá nhân nên đã sát hại Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ và hai lần ám sát Viễn nhưng bất thành. Bảy Viễn nói với Nguyễn Bình:
- "Chúng tôi không hài lòng về cung cách đồng chí đối xử với chúng tôi. Bình Xuyên đã chiến đấu từ trước khi đồng chí vào tới Nam Bộ, đồng chí không hề đề nghị giúp đỡ gì chúng tôi, mà đồng chí chỉ hạ lệnh bắt chúng tôi phải thi hành. Chúng tôi đã đánh giặc suốt 30 tháng qua và đã có hơn ba trăm anh em hy sinh. Suốt trong ba năm chiến đấu đó, chúng tôi không hề nhận được của Việt Minh và Hà Nội một hột gạo, một con cá khô, một khẩu súng, một viên đạn. Những đoàn công-voa (Convoi) từ Bắc vào, đi ngang qua vùng của chúng tôi, đã được chúng tôi bảo vệ để vận chuyển mọi thứ đến đơn vị của các đồng chí an toàn. Cả những khi các đồng chí bị Tây truy kích, chúng tôi cũng hậu tập giải vây và ngăn cản để các đồng chí rút lui êm...
- Chúng tôi nghĩ rằng các chánh trị viên không có gì để dạy dỗ chúng tôi. Chúng tôi đã ý thức cầm súng chiến đấu vì nền độc lập của Tổ quốc, và để đòi tự do. Chúng tôi không chiến đấu cho một chế độ Đảng trị, hay để củng cố uy quyền lãnh đạo đã nhẫn tâm tàn sát đồng đội một cách tàn độc hơn là đối với quân thù..."
Bảy Viễn chất vấn Nguyễn Bình vì sao giết Giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ thì được Nguyễn Bình trả lời:
- "Đó là kẻ lúc nào cũng mưu tính diệt Cộng Sản và cá nhân tôi, cho nên phải tiêu diệt."
Trong khi Bảy Viễn đang họp tại trụ sở của Nguyễn Bình tại Đồng Tháp Mười thì lực lượng của Nguyễn Bình tấn công bộ chỉ huy của các đơn vị Bình Xuyên giết chết trung đoàn trưởng Trung đoàn 5 Bình Xuyên Phạm Hữu Đức và trung đoàn trưởng Trung đoàn 25 Bình Xuyên Bùi Hữu Phiệt và bắt nhiều sĩ quan khác của Bình Xuyên. Bộ chỉ huy Chi đội 9 và Tổng hành dinh của Bảy Viễn tại Căn cứ Rừng Sác cũng bị tấn công. Đến sáng ngày 24 tháng 5 năm 1948 thì Bộ Tư lệnh Khu 7 đã bắt các nhân viên Bộ chỉ huy Chi đội 9, Lâm Ngọc Đường cũng bị bắt trong lúc trốn chạy và chưa kịp phi tang các tài liệu Pháp gửi cho Bảy Viễn, danh sách các nhân viên Phòng Nhì, nhật ký ghi các vụ việc phá hoại, kế hoạch lập chiến khu Quốc gia Rừng Sác cùng một cặp chứa tiền Đông Dương. Sau đó vài ngày, khi nhận được tin cấp báo về việc Tổng hành dinh Rừng Sác bị tấn công, Bảy Viễn từ chối chức Khu trưởng Khu 7 và không còn muốn hợp tác với Việt Minh nữa. Một đại đội do Bảy Viễn mang theo được lệnh ở lại, không đi theo Bảy Viễn. Trên đường từ Đồng Tháp Mười về Rừng Sác, Bảy Viễn và đoàn tùy tùng bị Trung đoàn 306 của Nguyễn Bình do Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy phục kích trong đêm nhưng vì đã đề phòng và chống trả quyết liệt nên Bảy Viễn thoát khỏi vòng vây, sau cuộc đụng độ này thì Bảy Viễn chỉ còn lại hai Trung đội khoảng 100 lính.
Về thành
Tuy cũng phản đối quyết định giải tán các đơn vị Lực lượng Bình Xuyên, nhưng Mười Trí vẫn trung thành ở lại quân kháng chiến Việt Minh. Rạng sáng ngày 27 tháng 5 năm 1948, sau khi Bảy Viễn âm thầm rút quân rời chiến khu Đồng Tháp đã được Mười Trí mời đến Tổng hành dinh đồng thời cũng là nhà của ông ở Đông Thành (Chi đội 4) tá túc, nhằm thuyết phục Viễn ở lại vì "còn nước còn tát", nếu xảy ra chuyện thì Mười Trí sẽ đứng ra bảo lãnh bất kể hậu quả. Viễn tuy vẫn chưa phục, nhưng hứa hẹn sẽ suy nghĩ kỹ. Đến đêm khi Bảy Viễn đang ngủ, Mười Trí cho gọi thuộc cấp đến, ra lệnh thông báo rằng các lực lượng Bình Xuyên khác ai ở đâu thì ở yên đấy, không được tự ý rời đi khi không có lệnh của ông, nhằm làm giảm tối đa thiệt hại cho quân đội Việt Minh. Sáng hôm sau, khi cùng nhau dùng bữa cơm thân tình cuối cùng, Bảy Viễn thông báo quyết định trở về Sài Gòn vì không thể sống chung với những người mà ông xem là bất công và xảo quyệt. Mười Trí đã tiên liệu trước, nên đồng ý tiễn Viễn đi một đoạn dài đến tận xã Hưng Long (Bình Chánh), kể từ đó, cả hai thuộc hai chiến tuyến khác nhau.

Vào lúc 13 giờ trưa ngày 12 tháng 6 năm 1948, qua sự trung gian móc nối của Đại úy Savani - Trưởng Phòng nhì Pháp, Bảy Viễn cùng Năm Tài đi đến một địa điểm cách đồn An Phú khoảng 2 cây số thuộc quận Cần Giuộc họp với 2 sĩ quan Pháp là Đại úy Jean Pouget và Thiếu úy Cistisni để bàn việc trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia. Ngày 17 tháng 6 năm 1948, Bảy Viễn tuyên bố Lực lượng Bình Xuyên trở về hợp tác với chính phủ Quốc gia Việt Nam, đặt Tổng hành dinh tại số 31 Đại lộ Gaudot, Chợ Lớn. Sau khi về hợp tác với Pháp và Chính phủ Quốc gia, ngày 1 tháng 8 cùng năm Bảy Viễn được Tướng Pierre Boyer de Latour gắn lon Đại tá và thuộc quyền Tổng trấn Nam Phần. Sau khi Bảy Viễn về thành, phần lớn Lực lượng Bình Xuyên được tổ chức lại và phiên chế thành các Vệ quốc đoàn, bộ phận còn lại do Viễn chỉ huy ly khai Việt Minh để tham gia chính quyền Quốc gia Việt Nam đã trở thành lực lượng Bình Xuyên được biết đến nhiều nhất vào thập niên 1950. Nhóm Bình Xuyên ly khai còn là một lực lượng quân sự bổ sung nằm trong khối Liên hiệp Pháp dưới danh xưng "Công an xung phong", nắm quyền kiểm soát toàn vùng Sài Gòn-Chợ Lớn.
Sau khi Bảy Viễn về thành, Maurice Thiên ngay lập tức tổ chức xây cất các dãy nhà phố kiểu khu gia binh quanh khu vực chợ Phạm Thế Hiển - khu chợ tuy mới thành lập nhưng đã sớm thu hút dân tứ xứ di cư đến và nhanh chóng trở thành khu vực sầm uất với nhiều dãy phố nhà lầu vươn cao - để giải quyết vấn đề ăn ở cho hai Trung đội trung thành của Viễn. Riêng Bảy Viễn được Năm Tài lo liệu sang ngay một căn nhà phố tại số 31 Đại lộ Gaudot, nay là đường Hải Thượng Lãn Ông, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, làm tổng hành dinh kiêm văn phòng liên lạc tạm thời của Bộ tham mưu Lực lượng Bình Xuyên. Ngoài ra, vì chỉ còn lại hai trung đội nên Bảy Viễn ra lệnh cho Năm Bé, cấp dưới của Viễn, nhanh chóng tuyển quân mộ lính tại các khu vực quanh chợ Phạm Thế Hiển, chợ Xóm Củi, cầu Nhị Thiên Đường, cầu Xóm Chỉ, cầu Chữ Y, chợ Cầu Muối, cầu Ông Lãnh và cầu Tân Thuận, nên chỉ sau vài ba ngày thì quân số Lực lượng Bình Xuyên ly khai đã nhanh chóng nâng lên thành một tiểu đoàn với khoảng 1000 lính, được cấp quân phục và trang bị vũ khí đầy đủ, sau đó giao cho Tư Sang huấn luyện quân sự cấp tốc. Nhờ vậy, sau hơn một tuần lễ thì Bảy Viễn đã có trong tay một Lực lượng Bình Xuyên mới.

Năm 1949, Bảy Viễn cho xây Tổng hành dinh phía bên kia cầu chữ Y hướng quận 8 ngày nay, vị trí sát dạ cầu, bị phá hủy sau khi tướng Dương Văn Minh đánh bại quân Bình Xuyên. Viễn cũng là người bảo trợ cho một ngôi chùa nhỏ mang tên Bảo Quốc tự, thành lập năm 1947, nay mang tên là Linh Phước tự, tọa lạc tại số 139 đường Dạ Nam, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo báo Người Lao Động thì Bảy Viễn còn sở hữu một ngôi biệt thự sang trọng ngay trung tâm thành phố Đà Lạt, tọa lạc tại số 10 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nay là trụ sở của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng. Ngoài ra, Bảy Viễn còn sở hữu không ít dinh thự trong Chợ Lớn, một trong số đó tọa lạc sát bên hý trường Đại Thế Giới, nay là tòa nhà số 20 đường Ngô Quyền, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng trấn Sài Gòn - Chợ Lớn
Bảy Viễn và Quốc trưởng Bảo Đại gặp nhau lần đầu năm 1949 tại Sài Gòn, sau đó cả hai nhanh chóng kết thân với nhau, nhờ vậy mà Bảy Viễn được Bảo Đại phong "Nam Tước" của Hoàng gia và nhận làm em nuôi dù Bảo Đại nhỏ tuổi hơn Viễn nhiều. Thời đó, người ta cho đấy là vinh hạnh lớn của Bảy Viễn, nhưng thực chất có mối quan hệ này vì Bảy Viễn cung cấp tiền cho Bảo Đại đổi lấy việc Bảo Đại bổ nhiệm Bảy Viễn vào các chức vụ quan trọng. Kể từ đó, Lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn cũng trở thành một trong những lực lượng bảo vệ Quốc trưởng Bảo Đại, tình bạn giữa Bảy Viễn và cựu Hoàng đế ngày càng thân thiết. Viễn thường lên Đà Lạt nghỉ mát và thăm Bảo Đại, những dịp gặp nhau, cả hai thường cùng đi săn, câu cá hoặc đánh bạc.
Năm 1951, Lực lượng Bình Xuyên giải tỏa thành công con lộ 15 Sài Gòn-Vũng Tàu. Ngày 22 tháng 4 năm 1952, Quốc trưởng Bảo Đại phong Bảy Viễn lên cấp Thiếu tướng (Major-général) Quân đội Quốc gia và bổ nhiệm vào chức vụ Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn kiêm nhiệm vụ trông coi ngành cảnh sát, nên sau đó Bảy Viễn giao chức Giám đốc Nha Cảnh sát Đô thành cho thuộc cấp Lại Văn Sang (Tư Sang). Trong khoảng thời gian vàng son khi nắm trong tay quyền lực to lớn, vừa là tướng quân đội, vừa nắm toàn quyền ngành an ninh nhưng đồng thời cũng nắm nhiều hoạt động kinh doanh, Bảy Viễn trở thành một trong những người giàu có và quyền lực nhất. Trong giới tội phạm miền Nam trước năm 1945 thì Bảy Viễn là người thành công nhất về quyền lực, sự giàu sang cũng như đạt đến đỉnh cao danh vọng.

Ngày 1 tháng 1 năm 1951, Bảy Viễn đấu thầu thành công và thâu tóm sòng bạc Đại Thế Giới (Casino grand Monde) ở Chợ Lớn vốn thuộc quyền quản lý của Lâm Giống, trùm cờ bạc Ma Cao. Theo hồ sơ về tỷ phú Hoa kiều Lý Long Thân do Cảnh sát Việt Nam Cộng hòa lập, hiện lưu trữ tại Cục lưu trữ Việt Nam, thì Lý để cầu thân Bảy Viễn đã bỏ số tiền hơn 4 triệu Franc để tổ chức tiệc chiêu đãi Bảy Viễn và thuộc cấp tại hý trường Đại Thế Giới. Sau đó Lý còn đề nghị Bảy Viễn đứng ra thầu lại sòng bạc Đại Thế Giới dưới sự hỗ trợ tài chính của chính mình với giá 500 nghìn đồng Đông Dương/ngày. Được tỷ phú Hoa kiều hỗ trợ và nhất là được Quốc trưởng Bảo Đại hậu thuẫn tạo mọi điều kiện thuận lợi nên Bảy Viễn dễ dàng trúng thầu khai thác Đại Thế Giới.
Viễn còn trúng thầu sòng bạc Kim Chung (Casino Cloche d'Or), tại khu vực ngày nay là khu chợ Dân Sinh sát cạnh trung tâm thành phố Sài Gòn, đồng thời cho phép khu mại dâm Bình Khang công khai hoạt động. Có tài liệu còn cho thấy Bảy Viễn hợp tác với Mathieu Franchini người đảo Corse (Pháp) - cũng là người quản lý đương thời của Khách sạn Continental - để buôn thuốc phiện và ma túy từ Tam giác Vàng qua Việt Nam rồi tới Âu-Mỹ trong khi Quốc gia Việt Nam chưa cấm thuốc phiện. Theo các tài liệu trong Trung tâm Lưu trữ Quốc gia thì Lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn còn tham gia vào rất nhiều các ngành kinh doanh và khai thác khắp Nam Kỳ đơn cử như việc Bảy Viễn đứng ra mở sơn tràng khai thác gỗ ở khu vực Sài Gòn-Vũng Tàu cũng như nhiều công trường khác trên cao nguyên, rồi thu thuế, thiết lập các đoàn vận tải, thiết lập các công ty xe đò từ Sài Gòn đi các tỉnh miền Tây và Vũng Tàu.

Lực lượng Bình Xuyên do Bảy Viễn chỉ huy vẫn là một đơn vị quân sự với đầy đủ các ban tham mưu, mật thám, gián điệp, chỉ điểm. Bảy Viễn còn cho thành lập những Ban Hành động (Comités d'action), trong thực tế đó là các Ban Ám sát (Comités d'assassinats) gồm khoảng 150 người, mang súng lục và lựu đạn, mỗi lần hoạt động thường đi từng toán 2-3 người. Những toán này được dùng để tiêu diệt các cán bộ Việt Minh tương tự với Ban Công tác thành của Việt Minh do Nguyễn Bình thành lập chuyên ám sát sĩ quan, công chức Pháp hay những người họ cho là Việt gian. Ngoài ra, Bảy Viễn còn là chủ tịch tổ chức Mặt trận Bình dân.
Người Pháp cho rằng khu vực Chợ Lớn khá phức tạp và không tướng lĩnh lẫn quan chức Pháp nào có thể khiến tình hình yên ổn cho đến khi Bảy Viễn quay về vì thời thanh niên Viễn từng hoạt động ở Chợ Lớn nên rất am tường địa bàn này. Là người gốc Hoa, lại trọng chữ tín, luôn sòng phẳng trong việc kinh doanh và cũng nhờ tiếng tăm Lực lượng Bình Xuyên mà chỉ trong thời gian ngắn sau khi về thành, Viễn đã dàn xếp ổn thỏa với các bang hội người Hoa giúp mang lại an ninh trật tự, ngay cả các chủ sòng bạc và các thương gia người Hoa sừng sỏ nhất cũng không dám đối đầu với ông. Bảy Viễn từng cùng Việt Minh vào bưng kháng chiến, hiểu rõ cách hoạt động của Việt Minh, với sự hiểu biết ấy và mong muốn tiêu diệt quân của Nguyễn Bình ở Sài Gòn đã giúp Viễn tiêu diệt Việt Minh trong một thời gian rất ngắn. Lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn đã chứng tỏ thực lực của mình khi hoạt động tích cực và hiệu quả trong việc phá vỡ hầu hết các cơ sở hạ tầng, kinh tài và nằm vùng của Việt Minh ở Sài Gòn-Chợ Lớn. Cả người Pháp lẫn Bảo Đại đều rất tin tưởng giao cho Bình Xuyên toàn quyền kiểm soát Sài Gòn-Chợ Lớn cùng Vũng Tàu và căn cứ địa cũ là Rừng Sác để chống lại Cộng Sản Việt Minh vì ông đã thành công trong việc ngăn chặn Việt Minh thâm nhập ám sát, phá hoại và kiếm tiền tại những nơi này, vì vậy trong khoảng thời gian này, ít có cán bộ Việt Minh nào dám đến hoạt động trong nội thành Sài Gòn-Chợ Lớn.
Đảo chính thất bại
Ngày 4 tháng 10 năm 1954, Bảy Viễn cùng tướng Nguyễn Văn Hinh và tướng Nguyễn Văn Xuân vào Dinh Độc Lập để hội đàm cùng tân Thủ tướng Ngô Đình Diệm, nhưng rồi từ chối lời mời của vị Thủ tướng về việc sáp nhập Lực lượng Bình Xuyên vào Quân đội Quốc gia. Ngoài việc cả 3 vị tướng lĩnh chỉ yêu cầu được giữ một số bộ ít ỏi đại diện cho những đoàn thể của mình, thì Bảy Viễn cùng tướng Hinh và tướng Xuân còn yêu cầu được tham chính và đưa ra yêu sách cải tổ toàn diện cùng lập Nội các mới, nên sau đó Diệm cương quyết từ chối không cho Bảy Viễn tham gia chính phủ dù Bảo Đại muốn Viễn nhậm chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, thậm chí còn muốn đưa Bảy Viễn lên làm Thủ tướng trong trường hợp ông loại bỏ Ngô Đình Diệm khi mâu thuẫn giữa Diệm và ông lên đến đỉnh điểm.

Bình Xuyên và các giáo phái khác như Cao Đài, Hòa Hảo muốn giữ nguyên lực lượng riêng của mình với lý do quân đội họ có lối đánh riêng, nếu sáp nhập vào Quân đội Quốc gia sẽ mất đi hiệu quả chiến đấu. Nhưng vì Diệm không nhượng bộ, nên cả Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo và một số lực lượng khác đã cùng họp bàn ra quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia vào ngày 4 tháng 3 năm 1955 với Chủ tịch là Hộ pháp Phạm Công Tắc và Phó chủ tịch là Bảy Viễn nhằm chống đối chính phủ mà Thủ tướng Diệm điều hành thay Quốc trưởng Bảo Đại đang công du ở Pháp. Ngoài ra, Thủ tướng Diệm vốn là người Công giáo trọng tiết hạnh muốn dẹp bỏ các tệ nạn xã hội cũng như cắt đứt các nguồn thu nhập khổng lồ của Bảy Viễn nên đã ra lệnh đóng cửa Đại Thế Giới, Kim Chung cùng các sòng bạc khác do Bình Xuyên điều hành và giải tán khu mại dâm Bình Khang khiến Bảy Viễn tức giận chống lại Thủ tướng Ngô Đình Diệm.
Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia gửi tối hậu thư buộc chính phủ phải có danh sách Nội các mới trước ngày 26 tháng 3 năm 1955, nhưng vì Nội các Ngô Đình Diệm không chịu nhượng bộ nên ngày 28 tháng 3 quân Bình Xuyên đã mở cuộc tấn công Bộ Tổng tham mưu rồi pháo kích vào Dinh Độc Lập, sang tháng 4 thì tấn công thành Cộng Hòa. Ban đầu quân đội Bình Xuyên giành được không ít lợi thế, nhưng sau đó bị các đơn vị Nhảy dù Quân đội Quốc gia do Trung tá Đỗ Cao Trí chỉ huy sau năm ngày đã nhanh chóng áp đảo và đánh bật ra khỏi Sài Gòn-Chợ Lớn. Quân đội Quốc gia phản công, đáng kể nhất là lực lượng người Nùng thiện chiến của Ngô Đình Diệm đã đánh sang tận Tổng hành dinh của Bình Xuyên ở khu vực cầu Chữ Y khiến lực lượng Bình Xuyên phải triệt thoái khỏi Sài Gòn-Chợ Lớn và rút về chiến khu Rừng Sác, hai bên sau đó vẫn giằng co suốt nhiều tháng trời.
Thủ tướng Diệm quyết định đặt Bảy Viễn và các thuộc cấp là Lại Văn Sang và Lại Hữu Tài ra ngoài vòng pháp luật. Ngày 21 tháng 5, Bảy Viễn và các thuộc cấp bị truy tố trước Tòa án Quân sự về các tội danh phá hoại và phản quốc. Ngày 21 tháng 9, Thủ tướng Diệm tổ chức Chiến dịch Hoàng Diệu (1955) do Đại tá Dương Văn Minh chỉ huy để truy kích tàn quân Bình Xuyên đang cố thủ tại mật khu Rừng Sác. Bảy Viễn may mắn được Pháp giúp giải thoát và đưa sang Pháp bằng phi cơ.
Lưu vong
Bảy Viễn đến Thủ đô Paris trong âm thầm như một du khách, kể từ đây ông bắt đầu cuộc sống lưu vong. Sau đó không lâu, nhờ thông qua Phòng nhì Pháp mà cả gia đình của Bảy Viễn cũng đưọc đưa qua Pháp đoàn tụ với ông. Việc người Pháp giải cứu và bảo vệ Bảy Viễn cùng gia đình của ông đã được ém nhẹm để giữ mối quan hệ hữu hảo giữa chính phủ Pháp và chính phủ Việt Nam Cộng hòa non trẻ mới được thành lập, ông Ngô Đình Diệm hiểu được điều này nên cũng không đòi hỏi hay đề nghị gì thêm với người Pháp, miễn là Bảy Viễn không được trở về Việt Nam. Dù vậy, ngày 13 tháng 1 năm 1956, Bảy Viễn và các thuộc cấp (Đã lưu vong) bị Tòa án Quân sự tuyên án tử hình khiếm diện về tội danh phá hoại và phản quốc, tước binh quyền và tịch thu tài sản.
Sau khi lưu vong ở Pháp, dù sống nơi xứ người, Bảy Viễn vẫn luôn dõi theo tình hình chiến sự ở Việt Nam. Theo các tài liệu và thư từ còn lưu giữ được bảo tồn ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia hiện nay, thì sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ, từ năm 1964 đến năm 1970, Bảy Viễn liên tục gửi nhiều bức thư cho chính quyền mới ở Nam Việt Nam, phần lớn mang nội dung rằng Viễn xin được cùng gia đình hồi hương, trở về Việt Nam để sinh sống như những công dân bình thường, và cam đoan không can hệ đến chuyện quốc sự, nhưng nếu chính quyền có thiện ý mời ông làm cố vấn tiếp tục đối kháng với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc, thì dù có tuổi cao sức yếu, Viễn vẫn vui lòng góp sức. Tuy nhiên, những bức thư với lời lẽ trang trọng này lại không được đón nhận, và Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa thậm chí còn xếp xó vào kho lưu trữ tư liệu dưới dạng văn bản mật. Ngoài thư từ, có hẳn một công văn của Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa đề cập đến vấn đề lo ngại việc ông Lê Văn Viễn giữa các năm 1965 và 1968 đã thực hiện những chuyến du lịch đến các quốc gia láng giềng lân cận như Thái Lan và Campuchia, nhưng thực chất là đến tham dự các cuộc họp của các nhóm chính trị lưu vong ở hải ngoại. Bảy Viễn có năm người vợ cùng nhiều con cái, tất cả vợ con đều được ông đón sang Pháp ngoại trừ Thiếu tá Lê Paul - con trai trưởng của Bảy Viễn - bị bắt năm 1955 và bị tử hình tại Sài Gòn năm 1956. Các con của Bảy Viễn đều đỗ đạt thành tài và có địa vị khá trong xã hội Pháp. Con cháu-hậu duệ Bảy Viễn vẫn ở Pháp. Những năm tháng sống lưu vong, tuy được chính phủ Pháp bảo vệ và bảo trợ, nhưng Bảy Viễn nhờ có khối tài sản khổng lồ trong các ngân hàng được tích trữ từ thời còn là sĩ quan ở Việt Nam mà ông có thể sống thoải mái cùng gia đình trong một ngôi biệt thự ở ngoại ô Paris. Năm 1972, Bảy Viễn từ trần tại Paris, Pháp, hưởng thọ 68 tuổi.
Chuyện bên lề
Năm 1972, tin cựu Thiếu tướng Lê Văn Viễn qua đời được đăng báo ở cả Pháp, Mỹ và Nam Việt Nam. Ngay sau đó, Hồ Hữu Tường - chính trị gia, nhà văn và nhà báo từng ủng hộ và hợp tác với Lực lượng Bình Xuyên - nhận lời "Tòa soạn Bách Khoa" viết bài báo ngắn về Bảy Viễn với nhan đề "Nhân việc Lê Văn Viễn từ trần - Một vài nhận xét về Cựu Thủ lãnh Bình Xuyên" cho "Đặc san Bách Khoa". Ông cho rằng Bảy Viễn là người nghĩa hiệp, anh hùng trọng anh hùng nên dù mâu thuẫn gay gắt với tướng Nguyễn Bình đến mức tuyệt giao nhưng Viễn vẫn không thù oán gì cá nhân tướng Bình, và vào năm 1951, khi nghe tin Nguyễn Bình bị quân Pháp phục kích giết chết, Bảy Viễn không tỏ vẻ vui mừng gì mà chỉ ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Là tay giang hồ tánh tình cương trực thẳng thắn nên vào những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, lực lượng của Bảy Viễn từ một nhóm nhỏ vô danh dần được biết đến và mở rộng quy mô, chiêu mộ được rất nhiều thanh niên ái quốc mà trong đó phần lớn là giới du đãng vốn là thành phần luôn bị xã hội kỳ thị xa lánh. Ông cũng cho rằng vì chỉ có những ưu điểm trên nên đó đồng thời cũng là khuyết điểm dẫn đến thất bại của Bảy Viễn.
Bảy Viễn thích nuôi một số loài thú dữ. Ở trong Tổng hành dinh sát cầu chữ Y, Bảy Viễn nuôi một con hổ cái nhốt trong chuồng sắt và nuôi báo xích trên cũi gỗ, những khi nhàn rỗi thì ông có thể vuốt râu hùm xoa đầu beo. Ngoài ra Viễn còn nuôi cá sấu thả ở trong ao ngoài sân vườn cùng nuôi rất nhiều loài chim và thú quý hiếm khác. Có một giai thoại do ông Hồ Hữu Tường thuật lại rằng Bảy Viễn quý loài hổ đến mức trong một lần đi săn, đang lúc rình mồi thì một con hổ từ đâu nhảy ra chồm lên vồ trúng các ngón chân của Viễn tạo nên vết thương khá sâu. Bảy Viễn tuy ngồi xổm và bị tấn công bất ngờ nhưng vẫn không lung lay hay trượt ngã, và với khẩu súng săn trong tay, nếu bắn một phát thì hổ sẽ chết ngay, nhưng vì thương tình mà Viễn chỉ quát lớn một tiếng để hổ hoảng sợ bỏ chạy.

Từng tồn tại tin đồn rằng Bảy Viễn còn rất nhiều kho báu như tiền và vàng ở miền Nam Việt Nam, nên sau khi đánh bại quân Bình Xuyên năm 1955, chính phủ Ngô Đình Diệm dưới sự điều hành của cố vấn Ngô Đình Nhu đã truy tìm tịch thu, nhiều khả năng điều này đã dẫn đến cái chết của Thiếu tá Lê Paul - con trai trưởng 27 tuổi của Bảy Viễn. Cuối năm 1955, khi căn cứ Rừng Sác của Bình Xuyên bị quân chính phủ tấn công, Bảy Viễn cùng các thuộc cấp thân tín như Lại Hữu Tài, Lại Văn Sang, Tư Hiển cùng con là Lê Paul đã mạo hiểm thoát ra khỏi Rừng Sác, tới con lộ 15, mượn xe chạy thoát ra Vũng Tàu, nơi có đông quân Pháp trú đóng để chờ tàu chở về nước, tuy nhiên Lê Paul đã không thể chạy thoát theo cha được và bị bắt khi đang loay hoay tìm đường thoát thân. Để chuộc lại con trai, Bảy Viễn cố gắng thương lượng với Ngô Đình Nhu về việc bàn giao tiền bạc gửi trong các ngân hàng nhưng bất thành nên Lê Paul bị giam giữ đến tháng 4 năm 1956 thị bị tử hình. Dư luận ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 cho rằng kho tàng Bảy Viễn sau năm 1955 đã bị các tướng lĩnh và sĩ quan cấp cao của Quân lực Việt Nam Cộng hòa tẩu tán một phần, phần còn lại giao cho chính quyền Nam Việt Nam, nhưng theo ông Đoàn Thêm, Đổng lý Văn phòng Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, thì kho tàng này đã được quân đội Việt Nam Cộng hòa tường trình và bàn giao minh bạch cho chính phủ, sang năm 1956 thì Tổng thống Ngô Đình Diệm quyết định sử dụng số kho báu ấy để xây dựng và thành lập Cô nhi viện Quốc gia.
Bảy Viễn là người mê cổ nhạc và mến mộ tiếng hát của cô Năm Cần Thơ, nên khi Viễn được phong chức Khu bộ phó Chiến khu 7 và mở tiệc liên hoan, đã cho nhạc sĩ Hai Dậu - trưởng Ban văn nghệ Chi đội 9 - về Sài Gòn mời danh ca cổ nhạc cô Năm Cần Thơ vào chiến khu Rừng Sác tham gia văn nghệ góp vui. Đến khi về thành và làm chủ khu Chợ Lớn, Bảy Viễn đã cho cô Năm Cần Thơ mở quán rượu ca cổ nhạc tên "Quán Họa Mi" trong khuôn viên hý trường Đại Thế Giới. Theo một nguồn khả tín, cố nghệ sĩ cải lương Út Bạch Lan lúc nhỏ từng là con nuôi Bảy Viễn. Cố nghệ sĩ cải lương gốc Hoa Ba Xây cũng từng là thông dịch viên tiếng Hoa cho Bảy Viễn.
Nguồn: “Bảy Viễn” — Wikipedia tiếng Việt, theo giấy phép CC BY-SA 4.0. Cập nhật lần cuối: .
Xem bản gốc